9. Có Phải Đạo Nào Cũng Tốt ?

Theo Vatican News 20-10- 2023 thì con số tín hữu công giáo trên toàn thế giới được thống kê là 1.375.852.000 người.

Theo thống kê năm 2015, con số ki-tô hữu toàn cầu là 2 tỉ 400 triệu (Wikipedia), trong đó:

  • 50% Công Giáo Rô-ma
  • 37% hệ phái Tin Lành, Anh Giáo.
  • 12% Chính Thống Giáo.
  • 1% các môn phái Thiên Chúa giáo khác.

Dân số thế giới năm 2020 là 7 tỉ 8 (Wikipedia).

Vậy thì, chỉ có chưa đến ⅓ dân số toàn cầu là ki-tô hữu, nghĩa là biết đến Chúa Ki-tô. Số còn lại ⅔ chưa từng biết về Ngài. Vả lại, Đức Giê-su mới xuống thế đầu công lịch, tức 2000 năm. Vậy trước đó thì sao?

Trong khi ơn cứu độ là phổ quát, nghĩa là dành cho mọi người, mọi thời đại.

 

·      Luật lương tâm

Lương tâm, theo quan niệm thông thường là tiếng nói thôi thúc trong lòng mỗi người làm điều lành, lánh điều dữ. Làm người, dù xa xưa, ai cũng có lương tâm thiên phú, Thượng Đế đặt để sẵn trong lòng, để ai cũng biết sống thiện hảo theo căn tính người của mình.

Văn hào Victor Hugo nói: “Lương tâm là Thiên Chúa ở trong con người”. Giáo lý Công Giáo thì nói: “Lương tâm hiện diện trong lòng người và ra lệnh đúng lúc cho con người làm lành lánh dữ” (GLCG số 1777).

Thánh Phao-lô đã nói trong thư gởi giáo đoàn Rô-ma:

“Dân ngoại là những người không có Luật Mô-sê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì Luật dạy, thì họ là Luật cho chính mình, mặc dầu họ không có Luật Mô-sê. Họ cho thấy là điều gì Luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ” (Rm 2, 14-15).

Quả vậy, ơn cứu độ không phải chỉ riêng cho người Do Thái và những ai sống sau ngày Chúa chịu chết, mà là cho mọi người kể từ sau ông tổ Adam, người đầu tiên phạm tội.

Thiên Chúa đã ghi khắc trong lòng mỗi người luật lương tâm ngay từ đầu, để bất cứ ai cũng có thể sống cho hợp đạo lý.

Triết gia Kant: “Một con người mang trong mình cảm giác lương tâm từ lúc mới sinh ra. Lương tâm như là người làm chứng của Chúa Trời để phán xử chúng ta”.

Công đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Về Mục Vụ Trong Giáo Hội Ngày Nay viết: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác… Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người, và chính con người cũng bị xét xử theo lề luật ấy nữa.

Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa” (4).

Khổng Tử nói: “nhân chi sơ, tính bản thiện”, tự ban đầu, ai cũng có thiện tâm.

Sống và thực hành Ki-tô giáo thực ra là, suy cho cùng, cũng là sống đạo làm người mà thôi.

Chúa Giê-su xuống thế làm người thì ai cũng được chuộc. Ngài dạy cho ta đạo lý và lập hội thánh để cụ thể hoá cái đạo lý làm người ấy. Cái đạo lý ấy là:

  • Tôn kính biết ơn Đấng Tạo Thành ra mình.
  • Yêu thương đồng loại là anh em

Trong Hiến Chế Lumen Gentium, Công Đồng II Vaticanô nói: những người vô tình không nhận biết phúc âm Chúa Ki-tô và giáo hội Người vẫn có thể được cứu rỗi “Thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm”.

 

·      Biến thái của lương tâm

Tuy nhiên, lương tâm nhiều khi bị biến thái nặng nề, nơi này thì chấp nhận, thời này thì không; người này lương tâm hẹp hòi, người khác thì rộng rãi; có lương tâm thì bối rối; có lương tâm lại lệch lạc, chai lì…

Tuy căn bản, nhưng lương tâm có những phán đoán khác nhau tuỳ hoàn cảnh, thời đại, địa phương… Nói chung, lương tâm có nhiều biến thái không thể làm mẫu số chung, làm chuẩn mực cho mọi người, mọi thời đại.

Trong thông điệp Ánh Rạng Ngời Chân Lý (Veritatis Splendor) Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II nói: “Trong các phán quyết của lương tâm, chúng ta luôn luôn có thể ẩn náu một khả thể làm lạc. Lương tâm không phải là một thẩm phán bất khả ngộ: lương tâm có thể sai lầm” (8)

Vì thế cần có một cơ quan thẩm định, dựa trên lời dạy của Chúa là thánh kinh, cơ quan đó là giáo hội chính Chúa thiết lập và trao quyền.

Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô: “Các tôn giáo được xem như những con đường đầy cố gắng để đến gần Thiên Chúa” (Ngày 13/9/2024, bài nói chuyện với giới trẻ tại trường Cao Đẳng Công Giáo ở Singapore).

Chúng ta thấy, các tôn giáo đều là những nỗ lực đi tìm cái gì tốt đẹp, cái thiện hảo, mà Thiên Chúa là cái tuyệt đối hoàn hảo.

 

·      Dân Thiên Chúa

Hội thánh là Dân Thiên Chúa (Lumen gentium 9, GlCG 782). Tuy nhiên Thiên Chúa không muốn cứu độ riêng rẽ từng người, Ngài muốn cứu độ tập thể qua việc chọn một dân, để từ đó mà đến muôn dân.

Thiên Chúa đã chọn dân Do Thái để ký giao ước, mà ta gọi là giao ước cũ trên núi Si-nai với Môi-sê và ban một lề luật. Dân Do Thái được gọi là dân riêng của Chúa, kính thờ Ngài giữa các sắc dân.

Để chuẩn bị cho Đấng Cứu Độ đến với mọi người, Ngài lập giáo hội. Giao ước này được thiết lập bằng giá máu Chúa Ki-tô trên thập giá. Ta gọi là giao ước mới.

Ngài kêu gọi những người Do Thái và mọi sắc dân cùng tập hợp trong một dân gọi là dân Thiên Chúa, không phải theo xác thịt nhưng là Thần Khí “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5).

Thiên Chúa thì của mọi dân, không riêng cho một dân nào cả. Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu rỗi” (1 Ti 2, 4).

Dân Thiên Chúa không phải do huyết thống, do dân tộc, do quốc tịch. Thánh Phao-lô nói: “Không còn là người Do Thái hay Hy Lạp… vì tất cả anh em là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3, 28).

Giáo hội là dân Thiên Chúa không trong nghĩa biệt lập, dân riêng nhưng trong ý nghĩa mọi “công dân” đều có nghĩa vụ:

  • Tư tế: tôn thờ một Thiên Chúa là
  • Tiên tri: làm chứng cho bàn dân thiên hạ về Ngài và loan truyền ơn cứu độ.
  • Vương giả: phục vụ người kém may mắn trong xã hội.

Và tuân thủ luật yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 34).

Luật lệ của Dân Thiên Chúa là thi hành là luật tình yêu vì theo thánh Phao-lô: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13, 1).

Tuy nhiên như thánh Phao-lô viết trong thư gởi giáo đoàn Rô-ma: “Và giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết“ (Rm 8, 1-2).

Nghĩa là gặp gỡ Đức Ki-tô thì đảm bảo cho ta sống trong chân lý, ân sủng và sự sống. Như Ngài đã từng nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 1).

 

Nói tóm lại:

Đạo Công Giáo, trong một ý nghĩa nào đó, là đạo của mọi người có lý trí có tư duy chân chính, biết mình không ở lỗ nẻ chui lên, biết nhìn nhận Thiên Chúa chính là cha mình và bổn phận làm con là hiếu thảo với Đấng sinh thành.

Ngài lại cho ta làm người, thì phải làm người cho ra người. Nghĩa là:

  • Biết kiềm chế dục vọng, làm chủ được bản thân.
  • Biết vị tha: yêu tha nhân, vạn vật.
  • Biết hướng thượng: luôn tìm cách đi lên, tìm cái đẹp, cái đúng, cái thiện hảo.

Chỉ có thế thôi, tất cả các thứ rườm rà khác, đều là phụ thuộc.

 

Với các tôn giáo khác thì con người nỗ lực đi tìm Thiên Chúa. Ki-tô giáo, ngay từ khởi đầu, thì chính Thiên Chúa đi tìm chúng ta. Emmanuel, Chúa ở cùng ta và chỉ cho họ con đường đi tới Người.

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *