4. Đức Giê-Su Là Đấng Ki-Tô (Cứu Thế)

Thánh kinh cựu ước loan báo về chương trình cứu độ mà Thiên Chúa đã lập trình cho con người. Theo các nhà chuyên môn, có đến 300 lần thánh kinh nói đến Đấng Ki-tô. Dân Do Thái, ai ai cũng biết đến lời hứa này.

Đấng Messiah (Christus: tiếng Hy Lạp; Ki- tô: tiếng Việt phiên âm) sẽ đến là Đấng nào?

 

·   Quan niệm về Đấng Ki-tô của người Do Thái

Tại sao nhiều người Do Thái lại không nhận ra Đấng Ki-tô (Cứu Thế) mà họ hằng trông đợi.

Thánh Gio-an trong chương đầu sách phúc âm viết: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11), Chúa Giê-su, trước khi tắt thở, đã xin cho kẻ đóng đinh Ngài: “Xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Nhiều người Do Thái không công nhận Đức Giê-su là Đấng Ki-tô phải đến, theo lời thánh kinh, vì lầm chẳng biết.

Thật vậy:

  • Trong một khung cảnh luôn luôn phải cảnh giác chống lại đa thần của dân ngoại, tôn thờ một Thượng Đế duy nhất, việc có ai xưng mình là “Con Thiên Chúa” là điều không thể chấp nhận. Chúa Giê-su, với dân Do Thái, Ngài không gọi mình là Thiên Chúa (mặc dù thật là như thế) mà luôn gọi Thiên Chúa là cha. Thiên Chúa Ba Ngôi là một khái niệm thật xa lạ với Do Thái giáo. Vì thế họ ghép Ngài tội phạm thượng: “Ngươi là người mà tự xưng là Đức Chúa Trời” (Ga 10, 33).
  • Họ không thể hiểu nổi tình yêu bao la của Thiên Chúa với con người, vượt xa trí hiểu của ta, như lời ngôn sứ I-sa-i-a: “Tư tưởng của ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của ta” (I-sa-i-a 55, 8).
  • Người Do Thái chỉ nghĩ, cho đến bây giờ, đấng Messiah mà Chúa hứa cho họ, chỉ là người kiệt xuất, kinh bang tế thế, là vị vua có khả năng giải phóng dân Is-ra-el khỏi ách nô lệ ngoại bang, làm cho dân nước thịnh trị, thống trị lâu dài trong sự công bình chính trực.

Nếu thế thì Chúa Giê-su không thể là Ki-tô được

 

·      Đấng Ki-tô không hiển trị minh nhiên

Vì Đấng Ki-tô rất cao trọng, nói theo triết học Đông Phương: vô vi hiện thân thành hữu vi, Thiên Chúa xuống làm người, tâm trí con người đương đại không hiểu thấu, nên sự xuất hiện của Ngài quả gây sốc và không thể hiểu với trí tưởng tượng ngắn ngủn của ta.

Khi các môn đệ được hỏi Chúa Giê-su là ai, Phê-rô tuyên xưng “Ngài là Đấng Ki-tô, con Thiên Chúa hằng sống” (Lc 9, 30). Chúa Giê-su liền nói: “Này anh Si-mon, con ông Zo-na, anh thật có phúc vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh biết điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự ở trên trời” (Mt 16, 17).

Vì cản trở công việc lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn, Chúa quở trách Phê-rô: “Vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người” (Mt 16, 23).

Đấng Ki-tô mà Chúa hứa ban cho dân Do Thái chẳng lẽ lại chính là Thiên Chúa. Điều này gây sốc cho ngay cả các môn đệ, vốn là gốc dân Do Thái. Có lẽ mãi sau này họ mới hiểu ra, chứ lúc đó chắc gì họ đã hiểu.

Chúa Giê-su có lần đề cập tới quan niệm sai lầm của những người Do Thái về Đấng Messiah. Ngài đã hỏi các học giả Pha-ri-siêu: “Các ông nghĩ sao về Đấng Ki-tô? Ngài là con của ai?” Họ trả lời: “Con của vua Đa-vít”. Người hỏi: “Vậy tại sao vua Đa-vít, được Thần Khí soi sáng, lại gọi Người là Chúa Thượng, khi nói rằng: Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con?

“Vậy nếu vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì làm sao Đấng Ki-tô lại là con vua ấy được?” ” (Mt 22, 41-45).

Tiến trình nhận biết Đức Ki-tô không phải một sớm một chiều.

Ta mới hiểu câu nói của Chúa Giê-su với các môn đệ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào thần khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 12-13).

Đời sống thần linh thì khác với xã hội con người. Trí óc của ta nhiều khi không hiểu nổi những huyền nhiệm của linh giới, cần có thời gian tiến hoá thích hợp.

Thánh kinh loan báo Chúa Ki-tô sẽ đến, diện mạo và nhiệm vụ của Ngài không phải ai ai cũng hiểu như nhau.

Thánh Gio-an Tẩy Giả, biết nhiệm vụ của mình là dọn đường và chuẩn bị cho Đấng Ki-tô đến “Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3, 4-6). Chính ông cũng không biết Đấng Ki-tô khi nào đến và Ngài là ai, mặc dù ông biết người ấy rất cao trọng mà chính ông cũng “Không đáng cởi dây giày cho người” (Lc 3, 16). Ông sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giê-su ngài có phải là Đấng Ki-tô không? (Lc 7, 20). Chúa trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe tin mừng” (Lc 7, 22).

 

·      Đức Giê-su là Đấng Ki-tô thật

Gio-an Tẩy Giả hiểu về Đấng Ki-tô không như người Do Thái hiểu: “Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3, 11), nghĩa là cứu thoát dân người khỏi ách thống trị của tội lỗi chứ không giải phóng chính trị vật chất.

Sau khi sống lại, Chúa Giê-su hiện ra và cùng đồng hành với hai môn đệ trên đường đi Em-maus, giảng giải kinh thánh cho họ những đoạn nói về Ngài: Bấy giờ, Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki- tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh (Lc 24, 25 – 32).

Chúa Giê-su khằng định mình là Đấng Ki-tô như kinh thánh đã nói:

Khi đọc sách tiên tri I-sa-i-a trong hội đường ở Na-za-rét Ngài khẳng định: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời kinh thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21).

Khi bị xử án, vị thượng tế hỏi: “Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con của Đấng đáng chúc tụng không?” Chúa Giê-su trả lời:

“Phải, chính thế” (Mc 14, 61-62).

Ngài nói với những người Pha-ri-siêu không tin vào Người: “Chúa Cha… Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người… Các ông nghiên cứu kinh thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính kinh thánh lại làm chứng về tôi” (Ga 5, 39).

 

·      Một số lời tiên tri về Đấng Ki-tô trong kinh thánh ứng nghiệm nơi Chúa Giê-su

Thánh Mat-thêu viết trong sách phúc âm của mình cho thấy rằng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô dựa trên những lời tiên tri trong Cựu ước.

Những lời tiên tri nói về Chúa Giê-su có từ hàng trăm và hàng nghìn năm trước, được các ngôn sứ loan truyền trong kinh thánh. Một số có liên quan như sau:

  • Đức Ki-tô thuộc dòng tộc Giu-đa

Sách Sáng thế 49,10: “Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó, cho tới khi người làm chủ vương trượng đến, người mà muôn dân phải vâng phục”.

Luca 3,33: “Amminadab con Admin, Admin con Arni, Arni con Esrom, Esrom con Fares, Fares con Giu-đa”.

  • Sinh ra ở Bê-lem

Sách tiên tri Mi-kha 5,1: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Is-ra-el. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa”.

Mát-thêu 2,1: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua

Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem”.

  • Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh ra

I-sa-i-a 7,14: “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel”.

Mát-thêu 1,18: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”.

  • Thảm sát các trẻ em ở Bê-lem

Giê-rê-mi-a 31,15: “Đức Chúa phán thế này: Người ta nghe có tiếng khóc ở Ra-ma, tiếng khóc than ai oán: Đó là tiếng bà Ra-khen khóc thương con cái mình, bà không muốn được an ủi về những người con ấy, vì nay chúng chẳng còn”.

Mát-Thêu 2,16: “ Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh”

  • Bị người Do Thái coi khinh

I-sa-i-a- 53,3: “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới”

Ga 1,11: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”.

  • Vẻ vang vào thành Giê-ru-sa-lem trên lưng lừa

Gia-ca-ri-a 9, 9: “Nào thiếu nữ Si-on, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ”.

Ga 12, 13-14: “Họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Is-ra-el! Đức Giêsu gặp một con lừa nhỏ, liền cỡi lên như đã được ghi chép: Hỡi thiếu nữ Si-on, đừng sợ! Này Đức Vua của ngươi ngự đến, ngồi trên lưng lừa con”.

  • Bị một trong các môn đệ của Người phản bội

Thánh Vịnh 41,10: “Cả người bạn thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay cũng giơ gót đạp con!”

Mác-cô 14,10: “Giu-đa Is-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ”.

  • Được bán với giá 30 đồng bạc

Gia-ca-ri-a 11, 13: “Đức Chúa liền phán bảo tôi: “Ném số tiền đó vào kho bạc đi! Chúng đánh giá Ta chỉ có bấy nhiêu thôi!” Vậy tôi đã đem ba mươi đồng bạc mà quẳng vào kho bạc Nhà Đức Chúa”.

Mát-thêu 26,15: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.

Mát-thêu 27, 6-7: “Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói: “Không được phép bỏ vào quỹ Đền Thờ, vì đây là giá máu”. Sau khi bàn định với nhau, họ dùng tiền đó tậu “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm” để làm nơi chôn cất khách ngoại kiều”.

  • Khi bị xét xử, Ngài vẫn im lặng

I-sa-i-a 53, 7: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng”.

Mát-thêu 26, 62-63: “Bấy giờ vị thượng tế đứng lên hỏi Đức Giêsu: “Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?” Nhưng Đức Giê-su vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?”

  • Sẽ phải đau khổ vì người khác

I-sa-i-a 53,4-5: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành”.

Mát-thêu 8, 16-17: “Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giêsu. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sa-i-a: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta”.

  • Bị đóng đinh với những kẻ phạm tội

I-sa-i-a 53,12: “Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi”.

Mát-thêu 27,38: “Cùng bị đóng đinh với Người, có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái”.

  • Bị đâm thủng cả chân và tay

Thánh Vịnh 22, 17: “Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay”.

Gio-an 20,27: “Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin “.

  • Bị chế giễu và coi thường

Thánh Vịnh 22, 6-8: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi! thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai”.

Mát-thêu 27, 39-40: “Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!”

  • Người ta cho Ngài uống giấm chua

Thánh vịnh 69, 22: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát nước, lại cho uống giấm chua”.

Gio-an 19, 29: “Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người”.

  • Bị đâm ở cạnh sườn

Gia-ca-ri-a 12, 10: “Ta sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đavít và dân cư Giê- ru-sa-lem, giúp chúng biết sống đẹp lòng Ta và tha thiết cầu nguyện. Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng”.

Gio-an 19, 34: “Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra”.

  • Họ bắt thăm áo xống Người

Thánh vịnh 22, 18: “Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn”.

Mac-cô 15, 24: “Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì”.

  • Không một cái xương nào bị gãy

Thánh Vịnh 34, 21: “Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy”.

Gio-an 19, 33: “Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người”.

  • Được chôn trong mộ của người giàu có

I-sa-i-a 53,9: “Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa”.

Mát-thêu 27, 57-60: “Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sếp, và cũng là môn đệ Đức Giêsu. Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. Khi đã nhận thi hài, ông Giô-sếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về”.

  • Sau cái chết sẽ được phục sinh

Thánh vịnh 16, 10: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ”.

Mát-thêu 28, 9: “Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói: Chào chị em! Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người”.

 

·      Hình ảnh người tôi trung

Đoạn kinh thánh mô tả chân dung Đấng Ki-tô (Đấng Cứu Thế) và sứ vụ của Ngài rõ nhất mà ta thấy, khác hẳn với quan niệm hạn hẹp vật chất của dân Do Thái, là đoạn trong sách tiên tri I-sa-i-a:

“Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng.

Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa. Cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ”.

“Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?

Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.

Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề.

Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.

Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả.

Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.

Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.

Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt.

Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.

Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu.

Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.

Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.” (I-sa-i-a 52 và 53).

 

·      Chúa Ki-tô của muôn dân

Khi Chúa gọi ông Abraham bỏ xứ sở mà ra đi, Ngài nói: “Nhờ ngươi mà mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12, 3).

Đức Chúa Trời là vua trời đất. Tội lỗi Adam xâm nhập không chỉ ở dân Do Thái. Vì thế Chúa Cứu Thế không đến chỉ với dân này. Ngài là Đấng Cứu Độ cho mọi dân tộc khắp mọi nơi để giải phóng loài người khỏi nô lệ tội lỗi, chứ không phải là người cứu dân Do Thái khỏi ách thống trị của ngoại bang, như họ đang kỳ vọng.

Trước dinh Phi-la-tô, khi bị xét xử, Chúa Giê-su cũng nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 37). Vương quốc của Chúa Cứu Thế là vương quốc của muôn dân.

 

Tóm lại:

Những tiêu chí cho một Đấng Ki-tô (Messiah) theo chính trị vật chất và trần tục như những người Do Thái tin tưởng, không thể thực hiện được vì hiện nay không ai có thể biết ai là một hậu duệ vua Đa-vít.

Điều này chỉ có thể là Đấng Thánh của Thiên Chúa mà thôi. Ngài thuộc thế giới thần linh chứ không phải đến từ người trần thế. Ngài chính là Đức Giê-su vậy.

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *