5. Vô Vi Thành Hữu Vi
- Lịch Sử Cứu Độ
- 30 March, 2025
- 0
- 554
- 27 minutes read
VÔ VI THÀNH HỮU VI: Thiên Chúa làm người
Theo Phật giáo “vô vi” là thế giới không sinh không diệt, không có khởi đầu và kết thúc, không nhân quả. Ngược lại thế giới “hữu vi” là thế giới của vô thường, của hiện tượng do nhân duyên mà tạo ra, sinh diệt biến hoá.
Với quan niệm như thế, theo Ki-tô giáo, thế giới vô vi chính là thượng giới.
· Thiên Chúa Ba Ngôi
Chúa Giê-su, khi đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô nói :”Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được? Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3, 12- 13).
Kiến thức về cõi trên, không ai biết được, mà có ai cho biết, thì chỉ là người ở cõi đó cho biết. Mà kiến thức đó cũng rất khó hiểu vì không theo logic thông thường. Một ví dụ tạm cho ta thấy: ta không thể hiểu thông tin ở thế giới lượng tử, một vật vừa ở chỗ này vừa ở chỗ kia cùng lúc, nghĩa là nếu với lăng kính không gian và thời gian như thế giới ta sống thì ta sẽ không quan niệm được.
Chúa Giê-su đến từ cõi trên, từ thượng giới, Ngài cho ta biết Thiên Chúa tự hữu có Ba Ngôi. Tuy Ba Ngôi mà một Chúa. Theo logic con người thì ta không thể hiểu. Đầu óc thông minh như thánh Augustinô, cũng không có lời giải đáp. Vì thế mà ta gọi là “mầu nhiệm”. Thật ra những điều ta không thể hiểu ở thế giới này là vì thiên nhiên không thiết kế cho ta khả năng đó. Thế giới lượng tử hoặc lỗ đen (black hole) gần nhất với ta, thế giới này cũng là vật chất mà không có không gian và thời gian, ta làm sao quan niệm được, khi không qua lăng kính không gian và thời gian.
Chúa Giê-su là Đấng từ trời xuống, Ngài nói: “không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho (Mt 11, 27).
Ta không biết gì nhiều về Chúa Cha. Qua thánh kinh và những gì Chúa Giê-su nói về Chúa Cha thì Ngài là Chúa Trời tự hữu, sáng tạo vũ trụ muôn loài, toàn tri toàn năng, quan phòng mọi sự, người Cha hiền lảnh rất mực khoan dung. Ngài là tình yêu nhưng cũng rất công minh chính trực, rất ghét tội lỗi.
Một ngôi vị trong Ba Ngôi là Chúa Thánh Thần. Ta biết Ngài qua sự tỏ lộ của Chúa Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28, 19). “Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17).
Chúa Thánh Thần hiển hiện rõ nhất trong ngày lễ ngũ tuần, dưới hình lưỡi lửa đậu trên đầu mỗi người khi họ đang cùng nhau cầu nguyện: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2,1-4).
Một vấn nạn xảy ra là mối tương quan giữa thế giới vô vi và thế giới hữu vi? Làm sao hữu vi lại hiện hữu được? Làm sao từ không nên có được?
Lão Tử trong Đạo Đức Kinh cho rằng: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Một cách nào đó, vạn vật được sinh ra đều mang tính cách thần thánh.
Khổng Tử thì cho rằng: “vô vi mà thành vật là thiên đạo” Khổng Tử cảm ngộ được tính cách đạo đức tự sinh của thế giới vô vi và con người thuộc thế giới hữu vi phải có đạo đức mới biết được thiên đạo và thiên mệnh.
Theo Ki-tô giáo, từ khởi thuỷ Thượng Đế đã tạo dựng vũ trụ từ hư không. Từ không trở nên có là do quyền năng của Người. Thế giới này do chính Ngài thiết kế và dựng nên. Nó là tạo vật do Ngài tạo dựng. Tạo vật là sản phẩm của tình yêu vì chính Ngài là tình yêu.
Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là tại sao từ xưa đến nay, Tạo Hoá dựng nên muôn vật vô cùng tươi đẹp diễm lệ, mà chính Ngài lại không tỏ mình để chúng ta chiêm ngưỡng, hoặc chí ít đánh tan những nghi ngờ ở những người vô thần về nguồn cội của họ? Chắc chắn Ngài biết rõ những tranh cãi muôn thuở, giữa những kẻ tin và những kẻ hoài nghi sự hiện diện của Ngài.
Quả thật, từ xưa đến nay, người ta chỉ biết sự hiện hữu của Thiên Chúa qua suy luận logic của lý trí, chứ chưa ai diện kiến dung nhan của Ngài.
Vì thế, không biết bao nhiêu ngẫu tượng hình thành: bình vôi, cục đá, con bò, hòn núi… Con người khao khát một cái gì hoàn hảo, vững chắc, để cho thân phận mỏng manh của mình dựa vào.
· Thiên Chúa ẩn mình
Khổng Tử nói: “Trời có nói gì đâu? Thế mà bốn mùa cứ thay nhau, vạn vật cứ sinh hoá. Trời có nói gì đâu?” (Luận Ngữ, chương 17, tiết 18).
Tại sao vậy? Câu trả lời rẩt đơn giản:
Thượng Đế là thực tại tuyệt đối, mà con người không suy nghĩ đến được. Nếu Thượng Đế ở chỗ này, hình tượng thế kia, thỉ chỉ là ngẫu tượng thấp hèn mà thôi.
Lão Tử thật đúng, khi diễn giải nghĩa chữ “Đạo”, theo ông, là thực tại tuyệt đối: Đạo là một nguyên lý vi diệu, không suy nghĩ tới được, vô biên, bất biến, vô thuỷ vô chung, đã có từ trước khai thiên lập địa, vũ trụ từ đó mà hình thành, không định danh bằng ngôn ngữ được.
Khổng Tử tin có một Thái Cực tuyệt đối hiện hữu, nhưng vì cái lý ấy cao siêu quá, trí tuệ con người không có khả năng đạt tới cho nên chỉ xem xét đến cách nó hoạt động, đó là học thuyết dịch lý.
Trong Cựu Ước, khi Môi-sê đang chăn cừu trên núi, thấy đám lửa cháy trong bụi gai và nghe tiếng phán: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh… Ông Môi-sê che mặt đi vì sợ nhìn phải Thiên Chúa” (Xh 3, 5-6). Môi-sê hỏi Đức Chúa Ngài là ai, để còn nói lại cho người Do Thái. Chúa trả lời cho ông: “Ta là Đấng Tự Hữu” (Xh 3, 14).
Chỗ khác Chúa phán: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta vì không ai thấy mặt ta mà còn sống” (Xh 33, 20).
Như vậy, đừng mong thấy được Thiên Chúa và hiểu biết thượng giới vì quả là phi logic và ngô nghê khi ta chỉ sống trong thế giới hữu vi giới hạn, người trần mắt thịt.
· Thiên Chúa làm người
“Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả, nhưng con một vốn là Thiên Chúa và là Đấng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18). Thánh sử Gio-an viết như thế trong chương mở đầu sách phúc âm của mình.
Mầu nhiệm cứu độ, thật ra chẳng có gì là khó hiểu. Muốn thế giới vô vi tác động vào thế giới hữu vi, thì việc một nhân vật từ trời cao được sai phái xuống làm người quả là logic mà thôi: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (2 Pl 6- 8).
Chính vì không nhận ra điều này mà nhiều người trong chúng ta, cũng như dân Do Thái xưa, không chấp nhận Chúa Giê-su là Cứu Chúa.
Trong mắt chúng ta, Đấng cứu độ phải là thiên sứ uy nghi dũng mãnh, nắm trong tay quyền sinh sát. Thân thế của Ngài phải xuất thân trâm anh thế phiệt, con dòng cháu giống, hét ra lửa. Và nhất là không được như một tội nhân “sống vô gia cư, chết vô địa táng” như ông Giê-su, “Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc sao? Nào mẹ ông chẳng phải là bà Ma-ri- a?” (Mt 13, 55).
Nhưng “Tư tưởng của ta không phải tư tưởng của các ngươi, đường lối của các ngươi không phải đường lối của ta” (Is 55, 8), Chúa nói tiếp: “Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối của ta vượt trên đường lối của các ngươi và tư tưởng của ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy” (Is 55, 9).
Chúa Giê-su là Đấng Thiên Sai được phái đến thế gian theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa cho con người, không phải theo cách con người nhưng hoàn toàn theo đúng kế hoạch khôn ngoan của Thiên Chúa. Không phải khía cạnh vật chất hay hư nát như đầu óc thiển cận của con người nghĩ, nhưng thoát khỏi nô lệ tội lỗi đưa đến sự huỷ diệt và cái chết đời đời. Cái đó mới là quan trọng và chính yếu.
Con người chỉ thấy cái lợi trước mắt, đi tìm những thứ chóng qua. Đấng Messiah mà Thiên Chúa hứa trong thánh kinh chỉ giải thoát ta khỏi những bế tắc chính trị, đem lại lợi lộc vật chất phù vân giả tạo thì xoàng quá! Mòn mỏi đợi chờ để làm gì vì “Con người ta trần truồng vào thế gian, thì cũng trần truồng mà bỏ nó” (G 1, 21), ai sống nhiều lắm là trăm năm, nào có giá trị gì lắm cho cam.
Như chuyện ông nhà giàu Chúa nói trong phúc âm, minh hoạ cho ta thấy cái quí giá phải là cái trường tồn: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!” Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã! Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12, 16-21).
Đấng Messiah phải mang lại cho con người ơn cứu rỗi, đem lại hạnh phúc vĩnh cửu mới đáng để ta đợi chờ.
Chúa Giê-su là người thật và cũng là Thiên Chúa thật.
Chúa Giê-su là người
Đức Giê-su là người thật như ta đã trưng dẫn ở trên: có cha mẹ, sinh ra, lớn lên rồi chết, có thời đại và nơi chốn.
Công đồng Cal-ce-do-ni-a (451) đã từng tuyên bố: “Đức Giê-su Ki-tô thật sự là Thiên Chúa và thật sự là người gồm một linh hồn có lý trí và một thân thể”
Khi mang thân phận làm người, Chúa Giê-su cũng bị giới hạn và chi phối bởi không gian và thời gian, những quy luật vật lý và cơ học, tâm sinh lý như bao nhiêu người khác. Cũng học tập kinh nghiệm, trưởng thành, ý thức dần dần về mình và thế giới chung quanh “Còn Đức Giê-su, càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2, 52).’
Nhưng Chúa Giê-su là Thiên Chúa thì có người không tin. Ngài là thiên sứ, là hiền triết, có thể dễ nghe, nhưng là Thiên Chúa thì thật chướng tai, là lộng ngôn. Và cũng vì thế dân Do Thái mới giết Ngài.
Vì vậy, trong lịch sử đã phát sinh nhiều giải thích khác nhau, khiến giáo hội phải dùng quyền Chúa trao để tôn trọng sự thật và tạo sự thống nhất. Quyền này có giá trị mà ta gọi là thánh truyền. (Xin tạm mở ngoặc để giải thích thêm: thánh truyền không tạo ra một tín lý mới, nhưng có thẩm quyền phán định một vấn đề đúng sai, dựa trên tư liệu thánh kinh, là chân lý được Thiên Chúa mặc khải. Những vấn đề tranh cãi thường được bỏ phiếu trong phiên toàn thể các giám mục toàn cầu).
Chúa Giê-su là Chúa
Vấn đề thiên tính của Chúa Giê-su được công đồng Ni-ce-a (năm 325) khẳng định mà ta vẫn dùng trong kinh tin kính hôm nay.
Công đồng Ni-ce-a khẳng định Chúa Giê-su vừa là người và là Thiên Chúa thật.
Thánh kinh đề cập rất nhiều lần thiên tính của Chúa Giê-su:
- Thánh Phao-lô viết trong thư gởi giáo đoàn Phi-lip-phê: “Đức Giê- su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. (Pl 2, 6-7)
- Thánh Phê-rô trả lời Chúa Giê-su, khi được hỏi Chúa Giê-su là ai: ”Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mc 16, 16).
- Mở đầu phúc âm của mình, thánh Gio-an viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” Ga 1, 1).
- Chúa Giê-su nói: “Ta và Chúa Cha là Một” (Ga 10, 30). “Ai thấy Ta là thấy Cha”(Ga 14, 9).
- Ngôn sứ Mi-kha nói về Đấng Messiah: ”Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mi-kha 5, 1)…
Thiên tính của Chúa Giê-su qua việc làm của Ngài
Quyền tha tội
Chúa Giê-su đã tỏ rõ thiên tính của mình, chứng minh quyền tha tội khi chữa người bại liệt:
“Thấy họ có lòng tin như vậy, Người bảo: “Này anh, tội anh được tha cho anh rồi.”
Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu bắt đầu suy nghĩ: “Ông này là ai mà nói phạm thượng như thế? Ai có thể tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?”
Nhưng Đức Giê-su thấu biết họ đang suy nghĩ như thế, nên Người lên tiếng bảo họ rằng: “Các ông đang nghĩ gì trong bụng vậy?
Trong hai điều: một là bảo: “Tội anh được tha cho anh rồi”, hai là bảo: “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn?
Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội”. (Lc 5, 20-24).
Quyền làm ra luật
Ngài cũng tỏ rõ quyền uy làm ra hoặc bãi bỏ luật lệ:
“Vào một ngày Sab-bat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: “Kìa Thầy xem. Tại sao ngày Sab-bat người ta làm điều không được phép như vậy?” Người trả lời rằng: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ða-vít đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế A-bi-a-ta thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?” Và Người bảo họ rằng: “Ngày Sab-bat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sab-bat; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sab- bat”.
Đấng tự hữu
Chúa Giê-su nói mình là Đấng tự hữu:
“Cha các ngươi là A-bra-ham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng”. Người Do Thái liền nói: “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã trông thấy A-bra-ham rồi sao?” Chúa Giêsu trả lời: “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi: Khi A-bra-ham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi”. (Ga 8, 56-59).
Nếu Chúa Giê-su không là người thật, Người sẽ chỉ là một ông thần của huyền thoại cưỡi ngựa xem hoa, đi qua thế giới con người và đưa chiếc gậy thần cứu rỗi. Vô cảm.
Chính khi là người thật, biết thế nào là hạnh phúc và đau khổ đời người, biết khóc lóc và sầu buồn, biết cô đơn khi bị bỏ rơi, biết đau đớn “mồ hôi máu chảy ra” Ngài cho ta thấy tình yêu tận hiến cho người mình yêu là thật sự có giá trị chứ không phải nói suông.
Và con người cũng thấy Thiên Chúa với mình thật gần gũi như người cùng ăn đồng bàn. Ta mới gọi được Thiên Chúa là cha, mới thấy tình yêu cao cả của Ngài rất cụ thể.
Ngược lại nếu Đức Giê-su không phải là Thiên Chúa thì sự chuộc tội, cứu rỗi của Ngài thật đáng cho ta nghi ngờ, làm sao cái hữu hạn lại tự sức đền bù cho cái vô hạn được?