5. Con Người và Tính Dục
- Con Người Là Ai?
- 5 October, 2023
- 0
- 437
- 27 minutes read
Tuy không phải mới lạ gì, tính dục vẫn là vấn đề dai dẳng đeo bám ta mãi cho đến thế mạt, vì nói không ngoa, nó là nguồn năng lực sáng tạo vô biên, với tình yêu phong phú luôn đổi mới và là sự thăng hoa của trí tuệ. Biết bao thiên sử thi diễm lệ, áng thơ văn tuyệt tác, nhạc tình du dương, những bộ phim sướt mướt bi lụy, đều mang hơi
hướm bản năng tính dục.
Nếu như tính dục là quà tặng của Thiên Chúa cho con người, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lặp lại trong tông huấn Amoris Laetitia (số 261): “Tính dục là quà tặng kỳ diệu của Chúa cho các thụ tạo”, thì nó phải được trân trọng, tôn vinh, được công khai bày tỏ giá trị.
Nhưng dường như, đối với không ít người, tính dục vẫn là đề tài cấm kỵ, thậm chí dè bỉu, che giấu như một thứ gì bẩn thỉu xấu xa. Vì đâu ra nông nỗi?
I – TÍNH DỤC VÀ KHOA HỌC:
1) Tính dục là một bản năng tự nhiên:
Thân thể con người là một bộ máy sinh học hết sức phức tạp, được thiên nhiên cấu tạo, gồm những bộ phận chuyên biệt, để bảo tồn nòi giống, di truyền cho thế hệ sau. Tính dục là khuynh hướng tự nhiên và bẩm sinh, người bình thường không ai thoát khỏi. Ngoài chức năng sinh sản, hành vi tính dục còn giúp vợ chồng bộc lộ tình cảm thân thiết gắn bó, yêu thương, thông cảm, tương trợ, cùng đảm nhận trách nhiệm chăm lo giáo dục con cái và giúp đỡ nhau, trong niềm vui thú và hạnh phúc gia đình. Tính dục đem lại niềm hoan lạc, sức mạnh tinh thần và thể lý, giúp con người cảm thấy hạnh phúc và lạc quan trong cuộc sống.
2) Xu hướng tính dục:
Bình thường, tạo hóa sinh ra hai giống riêng biệt rõ rệt là đực và cái, hay nam và nữ ở con người, để truyền sinh. Ta gọi là tính dục dị tính. Ngoài tuyệt đại đa số con người ta là dị tính như sự xếp đặt của tự nhiên, thì vẫn còn một số xu hướng tính dục do gen di truyền, hoóc-môn hoặc hoàn cảnh xã hội cá biệt, tạo nên các xu hướng tính dục khác nhau, mà ta gọi chung là LGBT.
– L (Lesbian) : Đồng tính nữ.
– G (Gay) : Đồng tính nam.
– B (Bisexual) : Song tính.
– T (Transgender): Chuyển giới.
3) Tính dục và phân tâm học:
Sigmund Freud (1856-1939) là cha đẻ ngành phân tâm học hiện đại. Ông là người đầu tiên chỉ rõ tầm quan trọng của vô thức trong sinh hoạt tâm lý.
Theo phân tâm học hiện đại: sự xung đột giữa ý thức và vô thức tạo nên những ẩn ức, dồn nén có thể làm nhiễu loạn đời sống tâm lý, sinh ra những rối loạn tâm thần như lo âu, trầm cảm, điên loạn…
Giải pháp để quân bình tâm lý là giải tỏa ẩn ức dồn nén, đưa nó lên vùng ý thức. Như thế: có nhiều hành vi được ý thức quyết định do sự thúc bách của vô thức, mà ta không biết đến và nhận ra được.
II – TÍNH DỤC TRONG KINH THÁNH
1) Cựu ước:
Quan niệm về tính dục có vẻ rất thoáng ở các sách Cựu Ước. Nhiều khi ta cảm thấy rất “sốc” và khó hiểu, trơ trẽn và đầy hoang dã, ngay ở cả các nhân vật đáng ra rất được quý trọng như tổ phụ Abraham.
Thánh kinh kể rằng: có một nạn đói xảy ra khiến ông Abraham phải lánh sang Ai Cập. Thấy vợ mình là Sara xinh đẹp, sợ mình bị hãm hại, Abraham bàn với vợ: “Bà coi, tôi biết bà là một người phụ nữ có nhan sắc. Khi người Ai Cập thấy bà, họ sẽ nói: “Vợ hắn đấy!”, họ sẽ giết tôi và để cho bà sống. Vậy xin bà cứ nói bà là em tôi, để vì bà, người ta xử tốt với tôi” (St 12, 11-13). Và quả thật, vua Ai Cập thấy Sara xinh đẹp, ăn ở với bà Sara và truyền ban cho ông Abraham nhiều gia súc và người làm. Đức Chúa trừng phạt vua Ai Cập và sau đó, nhà vua trả lại Sara cho Abraham và đuổi ông đi.
Truyện của ông Lót còn kinh tởm hơn:
Sau khi Đức Chúa cho phá hủy thành Sôđôma và Gômôra vì tội lỗi tràn ngập của họ. Ông Lót lên núi ở trong hang cùng với hai cô con gái của mình. Hai cô bàn với nhau phục rượu cho cha mình say để ăn nằm với ông mong cho cha có người nối dòng: “Cô chị sinh một con trai và đặt tên là Môáp; đó là ông tổ người Môáp ngày nay. Cô em cũng sinh một con trai và đặt tên là Ben Ammi; đó là ông tổ người Ammon ngày nay” (St 19, 37-38).
Đời sống tình dục của vua Đavít lại còn tệ hơn nhiều.
Chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bát Sêva, vợ ông Urigia, khi bà đang tắm. Đavít chiếm đoạt bà và âm mưu đưa Urigia, chồng bà, ra ngoài chiến trận chỗ hiểm nguy, mượn tay địch giết chết ông, hòng chiếm đoạt người vợ của tôi trung của mình, và Đavít đã toại nguyện với âm mưu tồi bại đó. “Vợ ông Urigia nghe tin ông Urigia, chồng mình đã chết, thì làm ma cho chồng. Khi tang lễ đã qua, vua Đavít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Đavít không đẹp lòng Đức Chúa” (2 Sm 12, 26-27).
Đavít đã rất hối hận việc làm của mình. Bấy giờ vua Đavít nói với tiên tri Nathan: “Tôi đắc tội với Đức Chúa”. Ông Nathan nói với vua Đavít: “Về phía Đức Chúa, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết. Thế nhưng, vì trong việc này, ngài đã cả gan khinh thị Đức Chúa, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết” (Sm 12, 13-14).
Đa thê, bạo hành, lạm dụng tình dục, ngoại tình, cưỡng hiếp, coi thường nhân phẩm phụ nữ, mại dâm, loạn luân, là điều không hiếm thấy ở các sách Cựu Ước.
Trong một xã hội bộ lạc bán khai, văn hóa thấp kém, du mục rày đây mai đó, đánh giết nhau để sinh tồn, chiếm đoạt đất đai của nhau, mạnh được yếu thua, tôn vinh sức mạnh đàn ông, tranh đấu với thiên nhiên hà khắc, đói khát… sẽ không có gì khó hiểu với đời sống tính dục hoang sơ như thế.
Hành vi sửa phạt gắt gao cho chúng ta thấy một xã hội mà nền cai trị còn dựa trên sự sợ hãi, trừng phạt để ổn định và duy trì trật tự. Tân Ước thì khác. Con người không còn sống trong sự sợ hãi, nô lệ nữa mà là tự do, ân sủng và tình yêu…
2) Tân Ước:
Chúa Giêsu nói: “Thầy đến không phải để phá bỏ, nhưng là để kiện toàn lề luật” (Mt 5, 17), đã đến thời, theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Tân Ước hoàn tất những gì mà Cựu Ước chưa làm xong. Ta có thể nói, khi hấp hối trên cây thánh giá, Chúa Giêsu phán: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19, 30) là mang ý nghĩa như vậy cho một sứ mạng.
Mặc khải của Thượng Đế cho nhân loại đã trọn vẹn nơi Đức Giêsu. Và cái chết trên thập giá là đỉnh điểm cho chương trình cứu độ, thể hiện tình yêu của Ngài với con người, thụ tạo Ngài đã dựng nên và rất “ưng ý”, “Thiên Chúa thấy mọi sự Người làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1, 31).
Tính dục cũng vậy. Chắc hẳn chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa chân thực của nó trong phúc âm Chúa dạy.
a) Tính dục và nhân phẩm:
Chúa Giêsu đã “bình thường hóa”, coi chuyện giao tế phái nam phái nữ là tương quan tự nhiên. Xã hội Do Thái cũng có phần giống như xã hội phong kiến Khổng Mạnh xưa kia của ta với quan niệm “nam nữ thọ thọ bất thân”, trọng nam khinh nữ.
Chúa Giêsu nghỉ mệt trên bờ giếng và đàm thoại với người đàn bà Samaria, trong khi các môn đệ vào thành mua thức ăn. Khi trở về: “Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ” (Ga 4, 27).
Phân tầng xã hội nơi nào cũng có, đặc biệt ở dân Do Thái: tư tế, biệt phái ăn trên ngồi trước, rồi hạng thấp kém bị liệt vào bọn tội lỗi như người thu thuế và nhất là gái làng chơi thì bị khinh miệt ra mặt, không ai thèm giao du: “Anh em không được đưa vào nhà Đức Chúa, tiền công của một con điếm hay tiền lương của một thằng điếm để làm lễ vật khấn hứa, vì cả hai đều ghê tởm đối với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 23, 19).
Chúa Giêsu đã giải phóng tư tưởng những người thông thái, thuộc giai tầng thượng lưu trong xã hội: các luật sĩ và biệt phái, để họ phải biết tôn trọng những người gọi là giai tầng thấp kém này: “Những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 30).
Hay chuyện người đàn bà ngoại tình: “Các kinh sư và pharisiêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách luật, ông Môisê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng người đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”. Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên mà bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi, chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên mà nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả”. Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”” (Ga 8, 3-11).
Chúa Giêsu hướng dẫn những người ở trong cái xã hội cũ nghiêm khắc, vị pháp luật, vô cảm trước thân phận yếu mỏng của con người, đến một xã hội nhân bản đầy tính nhân văn, cảm thông, vị tha: “Ai trong các ngươi thấy mình không có tội, thì lấy đá mà ném trước đi”. Và cũng để đặt vai trò con người làm trung tâm: “Ngày sabát làm ra là để cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát” (Mc 2, 28). Phải chăng Chúa Giêsu đã đưa nền pháp trị áp dụng cho những con người ấu trĩ, chưa trưởng thành đến nền nhân trị đầy tính người của xã hội hiểu biết, yêu thương khoan dung nhân hậu, đặc trưng của Giáo Hội Chúa Kitô.
b) Tính dục trách nhiệm, nhân vị và bình đẳng giới:
Tính dục không phải là chiếm hữu. Trước hết:
Là trách nhiệm: “Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy” (1 Cor 7,3).
Là nhân vị: “Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình” (1 Cor 6, 18). Bởi vì: “Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” (1 Cor 6, 20).
Và bình đẳng: “Vợ không có quyền trên xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ” (1 Cor 7, 4).
Sự tà ý, gian dâm phát xuất từ nội tâm, từ tư tưởng, chứ không phải hình thức bên ngoài: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5, 27). Như thế là đã rõ: Tính dục theo Tân Ước không phải là chiếm đoạt một chiều, không để thỏa mãn dục vọng bản năng, nhưng thể hiện trong một hôn nhân chân chính, trên tinh thần tôn trọng thân xác của nhau, trong một tương quan nhân vị của tình yêu, tự nguyện và bình đẳng.
Nam nữ trời sinh có sự khác biệt, bổ sung cho nhau để tồn tại và phát triển. Con người đã tồn tại từ khai thiên lập địa và vẫn đang phát triển, hẳn phải có sự quân bình. Ta thấy có sự bất bình đẳng giới, nơi này nơi kia, là chỉ thấy cái biểu kiến bên ngoài. Những hiện tượng vũ phu, bạo hành, tưởng như phái nữ bị chèn ép, nhưng mấy ai biết “lạt mềm buộc chặt” và sức mạnh thắng thế của phái nam đã bị vô hiệu hóa. Thực tế chứng minh.
Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ. Nam thuộc dương, biểu hiện sức mạnh, cứng rắn xốc vác, cương nghị, lý lẽ, đối ngoại … Nữ thì ngược lại nhu mì, tình cảm, đối nội… thuộc âm. Ở một xã hội cần đến sức lực để đối phó nghịch cảnh như đời sống du mục, làm nông nghiệp, chiến chinh, thì vai trò người nam được đề cao.
Trong Cựu Ước, Tân Ước cho đến ngày nay, thực tế, nữ vẫn là phụ tá cho nam. Thánh Phaolô vẫn không chấp nhận phụ nữ cất mạng che đầu, đàn bà cho ra đàn bà, giống như nhiều nhà thờ ngày nay ở Phương Đông, phụ nữ vẫn ngồi hàng ghế riêng. Trong Giáo Hội ngày nay, vai trò chính trong mục vụ và phụng tự vẫn dành cho nam. Ở những nước phát triển, vai trò phụ nữ rất được đề cao và đã thành luật. Nhưng từ khi lập quốc, 46 vị tổng thống Hoa Kỳ chưa ai là nữ. Tuy thế, không ai phủ nhận nhân phẩm phụ nữ và trọng nam khinh nữ cả, ngược lại là khác.
Đến lúc nào đó, xã hội không cho vai trò sức mạnh là cần thiết hàng đầu mà là trí tuệ, sự tài khéo. Phụ nữ được giải phóng việc nhà, việc sinh nở, ra ngoài làm việc nhiều hơn. Tôi nghĩ mọi sự sẽ khác, vấn đề chỉ là giới hạn của lịch sử, của thời đại, chứ không phải là bản chất bất bình đẳng nam nữ.
III – GIÁO HUẤN GIÁO HỘI
1) Giáo Hội tư vấn và hòa giải:
Tính dục, như ta đã biết là một vấn đề rất phức tạp, ai cũng có, rất mãnh liệt và mang tính cá nhân riêng tư và thầm kín, không dễ tỏ bày. Nó ảnh hưởng nặng nề trên đời sống mỗi người, nhiều khi để lại những sang chấn tâm lý, gây nên những hậu quả nặng nề.
Trước hết, theo phân tâm học, nó cần người tư vấn đáng tin cậy và cơ chế giải tỏa để đem lại thế quân bình. Đối với người Kitô hữu, linh mục đại diện Chúa ở tòa hòa giải, hoàn toàn có khả năng và thực quyền, đảm nhận vai trò ấy. Hãy đến tâm sự những khúc mắc thầm kín và để mặc cho lòng Chúa xót thương xá giải và xoa dịu hết những nỗi thống khổ tâm hồn mình: “Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các con…và tâm hồn các con sẽ được bình an” (Mt 11, 28-29). Giáo Hội nắm giữ chân lý mặc khải để qui chiếu, để soi sáng điều ngay lẽ thật.
Nhưng như đã phân tích: hành vi tâm lý là vô cùng phức tạp. Tâm hồn của con người là khu vườn rào kín, riêng tư, không dễ để khám phá và nhất là theo như chúng ta biết, nó hoạt động phần lớn theo cơ chế vô thức mà chính chủ thể cũng rất mù mờ. Vì thế, có trường hợp, chính cá nhân phải giải quyết theo lương tâm trung thực của mình.
2) Vai trò của lương tâm:
Nói về vai trò của lương tâm, Công Đồng Vaticanô II, hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, đoạn 16, có nói:“Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia.
Quả thật, con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng bị xét xử theo luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện
một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ”.
Thực tế, tiếng nói lương tâm khách quan nhiều khi bị lệch lạc do nhận thức yếu kém hoặc bởi rất nhiều yếu tố chủ quan khác. Rất cần được tư vấn và điều chỉnh, không tự mình mà quyết.
Kết luận:
Đức khiết tịnh không phải là diệt dục, diệt ham muốn mà ngược lại là khác. Nó cũng không phải là “lãng mạn” để sóng vỗ tràn bờ: phóng túng, vô nguyên tắc như con ngựa chứng. Mà là tiết độ, là tự chế và phần phúc cho ta sẽ rất lớn lao là được thấy mặt Đức Chúa Trời, như bài tám mối phúc thật Chúa giảng trên núi: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8).