4. Con Người và Lương Tâm

Ta không lớn như voi, không thể lanh lẹ như beo và không thể khỏe mạnh như sư tử; tính toán của ta còn thua xa cả trí tuệ nhân tạo. Nhưng tất cả chúng đều không biết đến đời sống đạo đức. Xã hội con người hơn vạn vật là có lương tâm, có đời sống đạo đức. Ca dao Việt Nam ta có câu:

Con người mất cả lương tâm

 Khác nào ác thú, dã cầm rừng hoang

Lương tâm là đặc trưng của xã hội con người. Vậy, lương tâm là gì?

 

1) LƯƠNG TÂM

Lương tâm theo quan niệm thông thường là tiếng nói thôi thúc trong lòng mỗi người làm điều lành, lánh điều dữ.

  • Quan niệm duy tâm:

         – Platon cho rằng lương tâm là sự mách bảo của thượng đế, nó tồn tại vĩnh cửu.

          – Kant: “Một con người mang trong mình cảm giác lương tâm từ lúc mới sinh ra. Lương tâm như là người làm chứng của Chúa Trời để phán xử chúng ta”.

           – Victor Hugo: “Lương tâm là Thiên Chúa ở trong con người”

Như thế lương tâm là một thực tại khách quan và bẩm sinh.

  • Quan niệm duy vật:

          – Sigmund Freud: lương tâm là một phần của Siêu Ngã, chứa đựng những thông tin về cái bị coi là xấu hay tiêu cực, bởi cha mẹ và xã hội.

          – Các nhà duy vật thế kỷ 17-18 khẳng định lương tâm là một phạm trù đạo đức học, là yếu tố quan trọng cấu thành đạo đức.

Như thế lương tâm là do thủ đắc, có được là do xã hội.

  • Giáo lý Công Giáo:

 Sách Giáo lý Công Giáo: “Lương tâm hiện diện trong lòng người và ra lệnh đúng lúc cho con người làm lành lánh dữ”(GLCG số 1777).

Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế về mục vụ trong Giáo hội ngày nay viết: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác…Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người, và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa” (4).

Nói như thế, có phải lương tâm có quyền uy tối thượng? Và chỉ cần tuân theo chỉ thị của lương tâm là đủ? Thực tế không phải như vậy.

 

2) BIẾN THÁI CỦA LƯƠNG TÂM

Lương tâm thì chung nhất và phổ quát cho mọi người, mọi thời đại. Lương tâm dạy ta những điều luật như: không tham lam của người, không giết người, không tà dâm, biết thảo kính cha mẹ mình v.v… Nhưng đi vào chi tiết thì, tùy hoàn cảnh cụ thể, văn hóa, lịch sử thời đại; tùy nhân cách, giáo dục của mỗi người mà cách thực hiện có khác đi.

Nói cách khác, nhiều khi lương tâm bị biến thái nặng nề: nơi này thì chấp nhận, thời này thì không; người này lương tâm hẹp hòi, người khác thì rộng rãi; có lương tâm thì bối rối, có lương tâm lại lệch lạc, chai lì…

Trong thông điệp Ánh Rạng Ngời Chân lý (Veritatis Splendor), ĐGH  Gioan Phaolô ll nói: “Trong các phán quyết của lương tâm chúng ta luôn có thể ẩn náu một khả thể lầm lạc. Lương tâm không phải là một thẩm phán bất khả ngộ: lương tâm có thể sai lầm”(8).

  • Lương tâm chai lì, lệch lạc, phóng túng:

Lương tâm con người có thể sai lệch vì môi trường sống lệch lạc về luân lý, những thói quen phạm tội, sự nuông chiều dục vọng, sự ích kỷ trục lợi, và những thực hành thường xuyên trái luân thường đạo lý. Quan niệm xu thời của một bộ phận xã hội…

  • Lương tâm bối rối, hồ nghi:

Người có lương tâm bối rối là người có những phán đoán do dự, không dứt khoát, bị ám ảnh không biết đâu là đúng là sai, nhẹ thành nặng, nặng thành nhẹ. Lương tâm bối rối sinh ra bất an, khổ sở , áy náy lo lắng.

  • Rèn luyện lương tâm:

Nói chung, những trường hợp như trên không phải hiếm gặp, nhưng xét ra cũng chỉ là cá biệt, cần phải điều chỉnh. Vì thế, lương tâm con người cũng luôn cần phải được giáo dục và rèn luyện, xem xét một cách đúng đắn và cẩn thận.

Sách Giáo Lý Công Giáo: “Lương tâm phải được rèn luyện và phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng và chân thật”(6).

Lời Chúa là tiêu chí huấn luyện cho lương tâm ngay thẳng trong sáng: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105).

Tìm lời Chúa ở đâu?

Lời Chúa là thánh kinh và giải thích lời Chúa là huấn quyền.

 

3) THÁNH KINH VÀ HUẤN QUYỀN

Trong chương trình tạo dựng khôn ngoan của mình. Thượng Đế đã ban lề luật của Ngài cho loài người. Bất kể là dân Do Thái hoặc không.

Lương tâm đã thấy xuất hiện từ khởi đầu của công việc tạo dựng. Con người từ khi có ý thức, đã nhận thấy tiếng lương tâm, nỗi xấu hổ, tội lỗi dằn vặt. Adam thưa với Chúa: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn” (St 3, 10).

Thánh Phaolô nói đến luật lương tâm, mà đã là người thì ai cũng có: “Dân Ngoại không có luật Môisê, mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì luật đòi hỏi, thì họ là luật cho chính mình, mặc dù họ không có luật. Họ cho thấy là điều gì luật đòi hỏi thì đều đã được ghi khắc trong lòng dạ họ” (Rm 2, 15).

Thiên Chúa đã ban thánh kinh cho ta, qua dân Do Thái. Thánh kinh là lời Ngài trực tiếp nói với dân Ngài tuyển chọn. Thánh kinh đi vào cuộc sống, những trường hợp cụ thể mà con người đối diện. 

Và lịch sử thì tiếp diễn không ngừng, hôm nay khác, ngày mai khác. Xã hội con người luôn diễn tiến đổi thay.

Vì thế, trước khi về trời, Chúa Giêsu lập ra Giáo Hội, ban quyền cho Giáo Hội tiếp tục công việc cứu độ của Thiên Chúa qua tiến trình lịch sử con người.

Ta hiểu lời Chúa Giêsu nói: “Thầy không để các con mồ côi” (Ga 14, 18), “Đây, Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Thiên Chúa đã sắp xếp để chúng ta có nơi nương tựa, tham khảo qua huấn quyền, là tiếng nói của Giáo Hội.

Công Đồng Vaticanô ll khẳng định, trong Hiến Chế Dei Verbum: “Huấn quyền không ở trên lời Chúa, nhưng phục vụ lời Chúa” (s 10). Trong thực tế, hầu hết mọi trường hợp, Giáo Hội không dùng quyền bính để bắt buộc tín hữu phải tuân theo, nhưng để con người có tự do với lương tâm sáng suốt và chính chắn của mình mà hành động.

 

Kết luận:

Lương tâm là luật căn bản, Thượng Đế phú bẩm trong lòng mỗi người, bất kể là ai. Lương tâm là quan tòa xét xử và đưa ra bản án.

Giáo lý Công Giáo: “Khi xác nhận lỗi lầm đã phạm, lương tâm nhắc nhở chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ” (GLCG 1781).

Suy cho cùng, chỉ có ân sủng và tình yêu, lòng bao dung, lòng thương xót Chúa mới thực thi và hóa giải được sự thưởng phạt của bản án lương tâm trong mỗi cá nhân. Giáo Hội có thẩm quyền và thực quyền được Chúa giao phó để làm việc này: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha” (Ga 20, 23).

Giáo Hội nhiều lúc không phải chỉ là kênh để tham khảo mà thôi.

Khi đến với Giáo Hội, người tín hữu tìm lại được sự bình an thật trong tâm hồn, cởi bỏ hết ưu tư phiền muộn rối ren mà theo lời Chúa, là thứ bình an không ai có thể ban được.

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *