7. Giáo Hội Chúa Ki-Tô

Bắt đầu cuộc đời rao giảng, Chúa Giê-su loan báo cho mọi người rằng nước trời đã gần và hãy ăn năn sám hối để hưởng ơn cứu độ. Nước trời hay nước Thiên Chúa là gì? Và làm sao để thúc đẩy, hiện thực hoá nước Thiên Chúa ở trần gian?

 

·      Giáo hội là gì?

Giáo hội hay hội thánh là tập hợp những người cùng tin vào Chúa Ki- tô, họ họp nhau lại để cùng nhau cử hành những nghi thức tôn thờ Thiên Chúa, cầu nguyện và hiệp thông, chia sẻ cho nhau tấm bánh trong tình yêu thương, lập lại cử chỉ của Chúa Giê-su trong bữa tiệc ly. “Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào mình Chúa đó sao? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần vào một tấm bánh” (1 Cr 10, 16-17).

Chính Chúa Giê-su thành lập giáo hội và ban quyền cho ông Phê-rô đứng đầu hội thánh: “Anh là Phê-rô, nghĩa là tảng đá, trên đá này Thầy sẽ xây hội thánh của Thầy và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời, sự gì con cầm buộc dưới đất trên trời cũng cầm buộc, sự gì con cởi mở dưới đất trên trời cũng cởi mở” (Mt 16, 17- 19).

Giáo hội đầu tiên tập họp được khoảng 120 người vào dịp lễ Ngũ Tuần (50 ngày sau dịp lễ Vượt Qua) (Cv 1, 15) và sau đó nhanh chóng lan ra khắp miền. Càng gặp khó khăn càng phát triển mạnh.

 

·      Cơ cấu giáo hội

Giáo hội gồm 2 thành phần: hữu hình và thiêng liêng

*  Cơ cấu trần thế hữu hình:

Giáo hội là cho con người và do con người vận hành.

Giáo hội là một tổ chức xã hội, đã là một tổ chức vật chất ắt hẳn thịnh suy tuỳ thời, do điều hành có tốt không, do có đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại. Luôn cần đổi mới và thức thời. Giáo hội Công Giáo đã tồn tại 2.000 năm. Trải qua 266 đời giáo hoàng. Có 1.375.852.000 thành viên trên toàn thế giới. (Thống kê ngày 20/10/2023 của Vatican News).

Giáo hội công giáo là một tổ chức chặt chẽ, có phẩm trật: đức giáo hoàng, các giám mục, linh mục và phó tế, giáo dân. Hồng y là đoàn gồm các vị chức sắc được xếp ngay sau giáo hoàng, được giáo hoàng chỉ định để trợ giúp và cố vấn trong việc quản trị giáo hội.

Quốc gia Vatican là lãnh thổ đặt dưới quyền của vị giáo hoàng đương nhiệm, diện tích khoảng 0,44 km2. Cần phân biệt Toà Thánh (the Holy See) và Thành Quốc Vatican (Vatican city State).

Toà thánh dùng để chỉ tổ chức cao nhất của Giáo Hội Công Giáo Roma toàn cầu. Toà thánh có địa vị như một quốc gia.

Trải qua 2.000 năm tồn tại, Giáo Hội thăng trầm theo lịch sử con người và đã có lúc phạm phải những khiếm khuyết trầm trọng: tranh giành quyền lực, gây chiến tranh, lạm quyền, độc đoán, tàn ác bất công, lạm dụng tình dục, cuồng tín ngược hẳn với bản chất nhân lành thánh thiện của Đấng sáng lập.

Muốn rao truyền tin mừng cho thế giới hữu hình, phải có cơ chế vật chất làm phương tiện mà vật chất thì luôn biến động giữa tốt và xấu, giữa thanh cao và ô trọc. Xưa kia, khi thần quyền và thế quyền là một, với quyền lực trong tay, giáo hội có lúc đã suy thoái trầm trọng, làm phát sinh nhiều bè phái, chia rẽ.

*      Giáo hội thiêng liêng:

Giáo hội là thân thể Chúa Ki-tô.

Khi Phao-lô trên đường đi bách hại những người theo Chúa, ông bị làm cho ngã ngựa và nghe tiếng phán: “Sao-lô, Sao-lô, sao ngươi bắt bớ ta? Phao-lô đáp: “Thưa ngài, ngài là ai?” Người trả lời: “Ta là Giê-su Na-za- rét mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 22, 7-8)

Các tín hữu quy tập thành hội thánh là thân thể Chúa Ki-tô. Giáo hội là một thân thể sinh động trong đó các chi thể liên đới hữu cơ với nhau, mà đầu là Chúa Ki-tô “Là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của hội thánh” (Cl 1, 18). “Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện trong Đức Ki-tô là Đầu, nhờ Người toàn thân được kết cấu chặt chẽ và các bộ phận ăn khớp với nhau nhờ mọi thứ gân mạch, hoạt động tuỳ theo chức năng của mỗi chi thể, và như thế, Người làm cho toàn thân thể lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái” (Ep 4,15-16).

“Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể” (Rm 12, 4-5).

Trong ý nghĩa đó, danh xưng tín đồ đạo Chúa gọi là Ki-tô hữu.

Tuy mỗi người phân chia theo nhiệm vụ được trao như chi thể của một thân thể, không có phân chia giai cấp thống trị và bị trị, mà ai cũng bình đẳng như nhau:

Thánh Phao-lô khẳng định trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô: Thánh Thần của Chúa: “Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô (Eph 4, 11-12).

Rõ ràng Thiên Chúa đã xếp đặt tất cả: từ quyền bính, phẩm trật trong giáo hội, coi như bộ phận lãnh đạo, mà thánh Phao-lô gọi là ơn đặc sủng coi sóc, dạy dỗ, làm tông đồ.

Đến ơn đặc sủng chữa bệnh, làm phép lạ, phân biệt các linh, làm ngôn sứ của một số người mà mục đích là để phục vụ ích chung của hội thánh. (Đọc thư thứ 1 của thánh Phao-lô, gởi tín hữu Cô-rin-tô, chương 12, 27- 30).

 

·      Mục đích giáo hội

Giáo hội là phương tiện Chúa Giê-su thiết lập để giáo hoá nhân tâm và loan truyền tin mừng cứu độ cho khắp thế giới, loan báo nước trời hay nước Thiên Chúa cho mọi người.

 

Ø Về ý nghĩa của nước trời

Chúa Giê-su trả lời các môn đệ, vì ngôn ngữ giới hạn, không lột tả hết được tính chất của nước trời, nên Ngài đưa ra những ví dụ cho dễ hiểu:

Nước trời thì:

*      Rất quý:

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy”.

“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13, 44-46).

Vì rất quý nên Ngài dặn môn đệ “Tiên vàn hãy tìm kiếm nước trời đã” (Lc 12, 31)

*      Phát triển tự thân:

Dụ ngôn hạt cải, đấu bột dậy men:

“Vậy Người nói: “Nước Thiên Chúa giống cái gì đây? Tôi phải ví Nước ấy với cái gì? Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được”.

Người lại nói: “Tôi phải ví Nước Thiên Chúa với cái gì? Nước Thiên Chúa giống như nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Lc 13, 18-21).

*      Mục đích, hệ quả cuối cùng không phải tức thời, nhưng là đến ngày tận thế, ngày quang lâm, cánh chung.

Dụ ngôn lưới cá; cỏ lùng.

Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13, 47-50).

“Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!” Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.” (Mt 13, 24-30).

*      Kết quả lớn lao cho ai biết đón nhận, mở lòng, nuôi dưỡng nó:

Dụ ngôn người gieo giống:

“Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục” (Mt 13, 3-9).

Giáo hội Chúa Ki-tô thành lập bản chất là loan truyền tin mừng cho mọi dân tộc thông điệp Thiên Chúa yêu thương con người. Loan truyền ơn cứu độ và niềm tin vào cuộc cánh chung hạnh phúc.

Trước khi về trời, Chúa truyền cho các môn đệ:

“Như cha đã sai thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20, 21).

“Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật, Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” (Mc 16, 15-16).

Thánh Phao-lô nói:” Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng tin mừng” (1 Cr 9, 16).

Các ông đã xả thân làm phận vụ và họ tập họp nhau chuyên cầu nguyện, chia sẻ nhau cơm bánh làm thành giáo hội đầu tiên.

 

·      Giáo hội trong thế giới ngày nay

Thế giới ngày nay, thế kỷ 21, nhân loại đã khác hẳn với thời xưa, 2.000 năm trước, khi Chúa Giê-su thành lập giáo hội sơ khai. Tất cả đều đổi mới 100% trong mọi lãnh vực, nhưng duy nhất có cái không đổi là đạo lý con người và những xao xuyến của nó về thân phận mỏng manh, về mục đích cuộc sống. Con người vẫn loay hoay tìm kiếm để xác định cho mình một hướng đi.

 

*      Truyền thống:

Giáo lý công giáo coi tông truyền có giá trị như một chân lý lịch sử. Ngày nay, người ta xem nhẹ truyền thống và nhiều khi coi truyền thống là cổ hủ, làm cản trở bước tiến xã hội. Chúng ta không coi trọng quá khứ đến nỗi coi nó là tất cả. Xã hội đi lên nhờ đứng vững trên nền quá khứ. Nhưng quá khứ thì có đúng có sai.

Chúng ta nhấn mạnh đến yếu tố hữu hình của giáo hội, vận hành bởi con người xác thịt, với những u mê và hạn chế, nhiều lỗi lầm. Còn phần linh thiêng là đạo lý thì vẫn như thế, vẫn trong sáng và không thay đổi.

Trong xã hội tiến bộ ngày nay, nhiều thứ đã đổi thay: như bãi bỏ chế độ nô lệ, thể chế dân chủ hình thành và lớn mạnh, bình đẳng nam nữ, coi trọng quyền lợi tự do cá nhân … nhất là tri thức, có những bứt phá ngoạn mục: con người bước vào kỷ nguyên tìm hiểu những quy luật thiên nhiên vô cùng kỳ bí huyền diệu, làm thay đổi những quan niệm “ếch ngồi đáy giếng” cũ kỹ, lạc hậu, mà xưa kia ta vẫn coi như hoàn toàn đúng.

Để đáp ứng và thích nghi với thời đại, giáo hội phải không ngừng canh tân và đổi mới, không ngừng cải tổ, đi trước thời đại một bước nếu không sợ bị tụt hậu và bị đào thải.

Giáo hội đứng trước những thách đố quan trọng như vấn đề đồng tính luyến ái, an tử, phá thai, giáo sĩ lạm dụng tính dục, quyền bính… Chúng ta cầu nguyện để Thánh Thần soi sáng cho các bậc có thẩm quyền, đề ra những quyết định mục vụ phù hợp với bước đi của thời đại, tạo niềm tin cho giới trẻ vào định chế giáo hội.

 

*      Khát vọng:

Biểu hiện lo âu, xao xuyến trong xã hội hôm nay, nói cho ta biết tâm trạng bất an, vô định, mất phương hướng, mất niềm tin vào định chế cũ và con người thời đại này đang loay hoay tìm ra lối thoát mới, thoả mãn khát vọng vươn tới cái thiện hảo trong tâm hồn con người.

Có phải truyền thống nói cái gì cũng đúng? Rõ ràng có quá nhiều cái sai. Phương pháp mà cha ông áp dụng, con đường mà cha ông đang đi, suy nghĩ mà những người đi trước vạch ra, có phải đang giải phóng chúng ta, đưa ta đến hạnh phúc hay đang đưa con người đến suy vong?

Trước mặt ta toàn là đau khổ: chiến tranh tàn khốc, người bóc lột người, tàn nhẫn, nghề nghiệp cuộc sống bấp bênh và cái chết vô nghĩa. Làm sao không thất vọng, mất niềm tin.

Ai sẽ là người dẫn đường đến sự thật, đến hạnh phúc, cuộc sống có ý nghĩa?

Chúa Giê-su tuyên bố: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Ga 14, 6).

“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6, 35).

“Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”(Ga 4, 14).

Khát vọng của con người thời nay thật chính đáng và trưởng thành. Chúa Ki-tô và giáo lý của Ngài có phải là một giải pháp tốt?

 

·      Giáo hội có cần thiết không?

*        Giáo hội là thân thể sống động của Đức Ki-tô:

Chúa Giê-su thành lập giáo hội, thân thể Ngài, như một vương quốc, một cơ cấu rất cần thiết cho nhân loại, nhưng hoàn toàn không phải giống như kiểu thế gian vẫn hiểu: phải có lãnh thổ, quân đội, chính quyền điều hành…” Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36), “Các con sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian” (Ga 17, 16).

Vậy giáo hội có những chức năng gì mà luôn cần thiết cho xã hội, nhất là xã hội hôm nay?

  • Rao giảng ơn cứu độ, tình thương của Chúa với nhân loại: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật” (Mc 16, 15). Tin mừng phải được mọi người biết đến, đó là mệnh lệnh.

Ngày nay, với phương tiện truyền thông hiện đại, người tín hữu dễ dàng tiếp cận nhanh chóng với mọi người qua internet để loan truyền tin vui cứu độ, đó là bổn phận trước khi Chúa đến. Như đã nói ở trên, số người biết đến phúc âm của Chúa Giê-su chưa đến một phần ba dân số nhân loại.

  • Thờ phụng Thiên Chúa: nếu cá nhân có trách nhiệm với sự hiếu thảo Đấng sinh thành của mình thì xã hội cũng có bổn phận với Ngài như vậy.

Nhà thờ là nơi phụng tự, nơi cầu nguyện, dâng của lễ tạ ơn Thiên Chúa chung cho mọi người.

Trong tình yêu không nói đến sự bắt buộc và chúng ta cũng không nên ép buộc nhau điều gì, như thánh Phao-lô nói: “Anh em chớ mắc nợ nhau điều gì, trừ ra lòng thương mến với nhau” (Rm 13, 8).

Như quy định của hội thánh, mỗi chủ nhật, giáo hữu họp nhau như anh em một nhà, chia sẻ lời Chúa, cử hành nghi lễ thánh thể, cùng nhau chia sẻ tấm bánh, kỷ niệm ngày Chúa còn ở trần gian “Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19).

  • Thông ban ân sủng: Chúa Giê-su nói với các môn đệ “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20) “Thầy không để anh em mồ côi” (Ga 14, 18).

Chúa thành lập giáo hội để hiện diện cụ thể và hành động với ta: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội

Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” (Mt 16, 18).

Giáo hội có thực quyền, chính Chúa Giê-su đã lập nên giáo hội và trao quyền điều hành cho các môn đệ, đứng đầu là Phê-rô.

Có thẩm quyền vì các ngài được “cầm buộc, tháo cởi”, giữ “chìa khoá nước trời”, quyền hành thật lớn lao. Thời nay, quyền bính một quốc gia tập trung vào 3 quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì trong giáo hội, các môn đệ cũng được Chúa trao tam quyền này. Giáo hội có đầy đủ quyền bính để thực thi sứ mệnh của mình.

Giáo hội là một phương tiện Chúa dùng để cứu rỗi nhân loại, có thực chất chứ không phải là một tổ chức bên lề, chỉ dùng khi nào cần đến, không phải là một kho dữ liệu chỉ để tham khảo.

Ngày nay người ta xem nhẹ vai trò giáo hội, coi nó như một tổ chức của con người thuần tuý, nhiều sai sót, đứng bên lề chương trình cứu độ, thậm chí còn cản trở Thiên Chúa thực hiện công việc của Ngài.

Giáo hội là một tổ chức cần thiết, hữu cơ, là bộ phận và giai đoạn không thể thiếu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa với nhân loại.

Giáo hội, trong chương trình cứu độ, đóng góp tích cực vào việc cứu rỗi các linh hồn, vì thế là phương tiện để thông ban ơn sủng thông qua các bí tích mà Chúa thiết lập khi còn ở trần gian. Các bí tích đó là: phép rửa tội, thêm sức, mình thánh Chúa, giải tội, xức dầu thánh, truyền chức thánh, hôn phối.

Chúa Giê-su nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo” (Ga 15, 5) Giáo hội là thân thể Chúa Ki-tô, một thân thể sống động. Chúa Giê-su là cây nho đầy nhựa sống, chúng ta là cành nho. Giáo hội luôn luôn sống, luôn năng động và rất cần thiết cho tín hữu mọi lúc mọi thời.

Cuộc sống hiện đại ngày nay đang đối diện với quá nhiều thách đố. Thông tin ngày nay thật nhanh chóng, rộng khắp, đa chiều, nhưng thật giả lẫn lộn: văn hoá sự chết và văn hoá sự sống đan xen nhau. Cái chết và sự huỷ diệt xem ra quá dễ dàng, người ta mất phương hướng như lạc lối giữa rừng hoang, không có lối ra.

Họ không tin vào truyền thống mà nhiều người cho là lỗi thời, là cản trở tiến bộ phải dẹp bỏ. Tại sao lại phải tin vào thánh kinh đã được viết cách đây 2.000 – 3000 năm? Một giáo hội không chịu cập nhật, xơ cứng, không đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng, mà chỉ biết cấm đoán. Quả thật, có quá nhiều suy nghĩ bảo thủ trong giáo hội, có nhiều bậc cha mẹ không hiểu đúng tinh thần phúc âm, sống hình thức, mê tín, phi khoa học làm nhiều người thất vọng.

Nhờ các bí tích được cử hành hàng ngày, mà các tín hữu kín múc được ơn sủng đến từ Thiên chúa, giúp họ vượt qua được khổ ải trần gian, đến được bến bờ hạnh phúc vĩnh cửu, quê thật của họ trên trời.

Giáo hội không những là kho tàng kiến thức để tham khảo, giải thích mặc khải lời Chúa, mà còn là điểm tựa vững chắc cho ta giải toả những khúc mắc của lương tâm, tìm lại được bình an, sức mạnh trong tâm hồn, thứ bình an mà thế gian không ai cho được.

 

·      Thời đại Chúa Thánh Thần

Trước khi về trời, Chúa Giê-su hứa ban Thánh Thần xuống “làm việc” với chúng ta. “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 13).

Thiên Chúa ba ngôi là một, cùng hành động, ta tạm phân chia từng giai đoạn cho dễ hiểu. Đây là thời điểm hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lòng giáo hội.

“Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói.” (Lc 12, 11-12).

Sách Tông Đồ Công Vụ là cuốn sách trong tân ước nói nhiều nhất về Chúa Thánh Thần. Hoạt động của giáo hội sơ khai lúc mới thành lập dưới sự điều động của các thánh tông đồ, trong đó quyền quyết định khi nào ta cũng thấy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này” (Cv 15, 28).

Sau khi về trời, Chúa Giê-su hứa ban Thần Khí hằng ở với các tông đồ và hoạt động với các ông trong việc loan truyền ơn cứu độ “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Trong lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các thánh tông đồ, biến các ông từ những người nhút nhát thành những người can đảm và nhiệt thành làm chứng cho đức tin dù có phải đổ máu.

Khi gặp những vấn đề cần hội ý chung, các ngài họp nhau lại, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần bàn bạc và quyết định, như buổi quy tụ các tông đồ, khoảng năm 46, ta gọi là Công Đồng Giê-ru-sa-lem, bàn về việc có nên bắt buộc người ngoài Dân Do Thái chịu phép cắt bì khi gia nhập hội thánh.

Qua giáo hội, Chúa Giê-su hiện diện cụ thể khắp thế gian, Cho đến nay, giáo hội hoạt động độc lập với hệ thống giáo lý và cơ cấu tổ chức riêng đã 2000 năm. Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong lòng giáo hội. Ngài là động lực canh tân và đổi mới và hướng dẫn giáo hội đi trên con đường của ánh sáng chân lý.

Lịch sử cuồn cuộn như nước chảy trên dòng sông, không bao giờ lập lại, luôn năng động trẻ trung và mới mẻ. Chúng ta không hề sợ đổi mới. Thiên Chúa là chủ của lịch sử, hãy để Chúa Thánh Thần tác động và hướng dẫn giáo hội Chúa Ki-tô đi đúng quy luật của lịch sử.

 

·        Ma-ri-a: mẹ Đấng Cứu Độ, mẹ Giáo Hội

*  Đức Maria trong thánh kinh

Thánh kinh chia ra làm 2 phần Cựu Ước và Tân Ước: Cựu Ước loan báo và chuẩn bị cho Đấng Cứu Độ đến, Tân Ước thì công bố và tường trình hoạt động của Ngài.

Cựu Ước nói gì về vai trò Mẹ Ma-ri-a?

Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa loan báo chương trình cứu độ nhân loại qua việc sẽ gởi một Đấng Cứu Tinh, sinh ra do một phụ nữ, dòng dõi Ngài sẽ là khắc tinh của sự ác đến muôn đời: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi

và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” (St 3,15).

Thiên Chúa cũng loan báo cho mọi người biết, qua miệng tiên tri I-sa- i-a, sự ra đời của Đấng Cứu Độ: “Một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

Tân Ước, tuy tập trung vào Đấng Cứu Độ, nhưng cũng nhiều đoạn mô tả hoạt động của Đức Maria:

Qua biến cố truyền tin, thiên thần cho ta biết Đức Ma-ri-a được đầy ơn phúc và ân sủng: “Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1, 28), sự tin tưởng và vâng phục tuyệt đối của Ngài vào Đức Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”(Lc 1, 38).

Viếng thăm người chị họ là bà Elisabeth với bài ngợi ca Magnificat nói lên đức tính khiêm tốn: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới… Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao những kẻ khiêm nhường” ( Lc 1, 48- 52).

Chúa giáng sinh nói lên tinh thần cầu nguyện, đời sống chiêm niệm của Đức Mẹ: “Bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 6-7)…” Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2, 9).

Tại nghi lễ dâng con vào đền thánh, gặp ông già Si-me-on, Đức Mẹ nghe ông nói tiên tri về sự đau khổ tột cùng của đời mình, trong vai trò làm mẹ Đấng Cứu Độ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” (Lc 2, 35).

Khi Chúa Giê-su bắt đầu cuộc đời giảng đạo công khai, Đức Mẹ cho ta thấy sự hữu hiệu của Ngài là Đấng cầu bầu cho ta với Chúa Giê-su, trong tiệc cưới Ca-na, khi chủ nhà không còn rượu “Thân mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”(Ga 2, 5) … “Đức Giê-su bảo họ: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi!” Và họ đổ đầy tới miệng. Rồi Người nói với họ: “Bây giờ, các anh múc và đem cho ông quản tiệc”. Họ liền đem cho ông. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết) (Ga 2, 7-9).

Dưới chân thánh giá, khi Chúa Giê-su hấp hối, Đức Mẹ mới thấy lời tiên tri của cụ già Si-me-on “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng bà” đau đớn thế nào.

Sách Khải Huyền nói về sự chiến thắng và khải hoàn của Đức Mẹ “Có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12, 1).

*        Đức Maria và Đấng Cứu Độ

Cuộc đời của Đức Maria luôn gắn bó với Chúa Giê-su và công việc cứu độ của Ngài. Khi sinh ra Chúa, sống đời ẩn dật, lao động, theo chân Ngài trên mọi nẻo đường giảng thuyết và chịu đựng những đau khổ khi Con bị xử án, khổ hình trên cây thập giá, Đức Mẹ thông công vào việc cứu độ Chúa Giê-su đã làm cho nhân loại. Đức Mẹ đã âm thầm chịu “lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn” như lưỡi đòng đâm qua lồng ngực Chúa Giê-su khi Ngài đã chết và đổ đến giọt máu cuối cùng cho nhân loại.

*      Đức Maria và giáo hội

Từ khi giáo hội sơ khai mới thành lập, người tín hữu đã tôn sùng đặc biệt Mẹ Chúa Cứu Thế. Các thánh giáo phụ: thánh tử đạo Jus-ti-nô (165), thánh I-rê-nê (202), thánh E-pi-pha-ni-ô ( 403), thánh Am-bro-si-ô đều coi trọng vai trò trung gian của Đức Mẹ trong việc cứu độ, đưa ta về với Chúa.

Đức Maria được coi như vị trung gian, là trạng sư của ta bên toà Chúa. Trong lịch sử giáo hội, Mẹ luôn đồng hành với ta, giúp ta luôn trung thành với Chúa. Nhất là những lúc gặp biến cố, khó khăn, Mẹ luôn bên cạnh chúng ta.

Giáo hội rất cẩn trọng trong việc công nhận những cái gọi là “phép lạ”.

Thật ra, những hiện tượng vũ trụ hùng vĩ như một hệ thống hoạt động điều hoà, thiên nhiên tráng lệ ta thấy thường ngày trước mắt, mà khi sáng tạo, Thiên Chúa thấy thế “là tốt đẹp”, lại cần phải phá vỡ để làm ra những phép lạ trái quy luật tự nhiên sao?

Tuy thế, đôi khi vì để thoả mãn trí óc hẹp hòi của con người, Chúa vẫn làm những “phép lạ”.

Đức Mẹ luôn hiện diện sống động trong đời sống giáo hội, điều này không còn nghi ngờ, và Ngài làm nhiều phép lạ.

–  Biến cố Lộ Đức

Đức giám mục Laurence, giám mục địa phận Lourdes, Pháp nói:

Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn“.

Đức Mẹ đã làm nhiều phép lạ, chữa lành nhiều bệnh nhân mà khoa học không giải thích được. Hằng năm nơi này đón tiếp khoảng 6 triệu người hành hương đến từ khắp nơi.

  • Biến cố

Đức Maria đã hiện ra 6 lần với 3 em bé chăn cừu làng Fatima, nước Bồ Đào Nha là Lucia, Francisco và Jacinta, từ ngày 13/5 đến 13/10 năm 1917. Hội thánh công nhận tính xác thực của việc Đức Mẹ hiện ra ở đây năm 1930, triều giáo hoàng Pi-ô XI.

Trước sự chứng kiến của khoảng 70.000 người, Đức Mẹ đã làm phép lạ cho mặt trời nhảy múa khoảng 10 phút.

  • Đức Mẹ La Vang

Có những biến cố Đức Maria hiện ra được giáo hội công nhận như ở Lộ Đức, ở Fatima như đã được nói ở trên. Cũng có những nơi, Đức Mẹ hiện ra không được giáo hội công nhận nhưng cũng không bác bỏ, như ở Mễ Du hoặc La Vang ở Việt Nam.

La Vang nằm ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị thuộc tổng giáo phận Huế. Các tín hữu tin rằng, ở đây vào thời kỳ đạo Công Giáo bị bách hại, ngày 17/8/1798, Đức Mẹ đã hiện ra an ủi họ và dạy họ hái lá cây vằng, có sẵn chung quanh, nấu nước uống để chữa các chứng bệnh. Từ đó nơi này thành trung tâm hành hương của người công giáo.

Đức Maria là mẹ giáo hội, luôn gắn bó và đồng hành với giáo hội là thân thể Đức Ki-tô, như người đã từng chăm lo cho Đức Giê-su khi Ngài còn ở trần gian.

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *