2. Con Người Là Ai?

Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,

Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?

Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,

Ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,

Cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,

Đặt muôn loài muôn sự dưới chân”. (Tv 8)

Vậy con người là ai?

 

1) ĐỊNH VỊ CON NGƯỜI

Kinh dịch: học thuyết tam tài

Kinh dịch coi con người là 1 trong 3 thành tố quan trọng nhất của vũ trụ. Học thuyết tam tài cho rằng vai trò con người cấu thành sinh hoạt của vũ trụ là không thể thiếu: “Con người là sức mạnh của trời đất, là giao điểm của âm dương, là điểm quy hội của thần linh, là tú khí của ngũ hành” (sách Lễ Ký, thiên Lễ).

Tây Phương: thuyết nhân học

Nếu trong nhiều năm, người ta coi trái đất là trung tâm và con người là rốn vũ trụ, thì sau này thuyết nhân học (anthropocentrism) lại cho con người là tất cả, mọi thứ đều phục vụ lợi ích con người, con người là chủ tể vũ trụ.

Thuyết tân tiến hóa:

Theo linh mục Teilhard de Chardin, hiện tượng con người là sự tiếp tục chương trình sáng tạo của Thượng Đế, con người xuất hiện như một giai đoạn của sự tiến hóa diệu kỳ có định hướng. Tri thức tập thể của loài người, gọi là tuệ quyển hình thành, sẽ đưa toàn vũ trụ tiến xa hơn đến một thế giới thần linh siêu việt, kết thúc tiến trình “christianisation”. Như thế, con người là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong sự sáng tạo.

Có điều lạ là cả Đông và Tây Phương đều cho con người mang tính thần thánh “nhân linh ư vạn vật”. 

Theo Kitô giáo, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thượng Đế và được tham dự vào thần tính của Ngài:“Anh em được thông phần bản tính của Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” (2 Pr 1, 4).

 

2) CON NGƯỜI VÀ NHỮNG GIỚI HẠN

    Địa cầu không phải là trung tâm thái dương hệ và nó chỉ là hạt bụi đường kính 12.728 km, so với vũ trụ, 14 tỉ năm ánh sáng. Trái đất chẳng là gì cả, so với vũ trụ bao la hàng trăm tỉ ngôi sao. Con người ở trên đó cũng chẳng là gì, đúng như lời thánh vịnh: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến” (Tv 8).

Khoa học thì khách quan, ngày nay ai cũng tin vào kiến thức khoa học. Nhưng khoa học lại rất giới hạn vì nó chỉ là sản phẩm trí tuệ hạn hẹp của con người. Trong nỗ lực tìm kiếm, khám phá cái có sẵn. Tri thức khoa học so với những gì có của thiên nhiên chỉ như kiến thức con ếch ngồi đáy giếng, khi thấy cái vòm trời tròn cỏn con trên đầu, lại cứ tưởng là đã nhiều lắm. Đúng như André-Marie Ampère (1775-1836) đã nói: “Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh”. Chưa nói đến tính chính xác của tri thức khoa học: nó rất phiến diện và chỉ là hiểu biết hiện tượng chứ không phải bản chất sự vật.

Tai người bình thường có thể nghe từ 1 dB đến 160 dB. Mắt thường có thể phân biệt 7 màu nằm trong các bước sóng từ 280-720 nm. Xúc giác của ta chỉ cảm nhận ở nhiệt độ không quá lạnh và không quá nóng. Sở dĩ ta biết nhiều hơn giác quan cảm nhận là nhờ phát minh những dụng cụ đo lường như hiển vi điện tử, máy đo quang phổ, viễn vọng kính không gian v.v…ngày càng tinh vi theo bước tiến kỹ thuật. Giới hạn đến đâu, ta cũng chưa xác định.

Ngày nay, kính hiển vi điện tử có thể thấy nguyên tử, nhưng hạ nguyên tử thì chưa mà nghe rằng ở thế giới này thì định luật vật lý đã thay đổi. Tham vọng của ta là hiểu biết chân tướng, cùng kỳ lý sự vật. Vẫn phải chờ xem…

Nhà vật lý lượng tử nổi tiếng Fred Alan Wolf (1934) tuyên bố: “Có đầy đủ bằng chứng để chỉ ra rằng trong bản chất sự hình thành vũ trụ vật lý có hiện diện yếu tố gọi là tâm linh”.

Thế giới vật chất mà ta thấy bằng giác quan chỉ là một phần của thế giới thực. Con người thật ra là cầu nối giữa vật thể rắn và thế giới tâm linh như kinh thánh đã từng khẳng định.

Trong thơ thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô nói: “Không phải mọi thể xác đều giống nhau: của loài người thì khác, của loài vật thì khác, của loài chim thì khác, của loài cá thì khác … Nếu có thân thể có sinh khí, thì cũng có thân thể có thần khí” (Cor 15, 39 …44).

 

3) SỐ MỆNH CON NGƯỜI

Bản tính thiện, bản tính ác

Con người được Thượng Đế đặc biệt yêu thương, nhưng cũng là đối tượng ganh ghét của thế lực sự dữ. Thượng Đế cũng để mặc cho sự dữ hoành hành như một sự thử thách quý giá. Con người bị giằng co giữa thiện và ác.

Thánh Phaolô viết: “Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7, 15). Con người chúng ta như luôn bị lôi kéo, bị giằng xé giữa dục vọng xác thịt và tinh thần thanh cao, giữa tốt và xấu. Đó là điều tất yếu xảy ra sau khi nguyên tổ phạm tội, đánh mất sự bình an thanh tịnh muôn thuở của vườn địa đàng. 

Thiên thần và con người đều được Chúa ban cho sự tự do là quyền được lựa chọn. Các tạo vật khác không có được và phải tuân theo những quy luật đã được định sẵn. Đó là nguồn cơn.

Chính Luxifer và đồng bọn, vốn là những thiên thần thông minh sáng láng, lôi kéo thành công ông bà nguyên tổ bất tuân Thượng Đế, để rồi cùng chịu tai họa như chúng.

Lịch sử con người là một trận thư hùng một mất một còn giữa tình yêu và hận thù, giữa cái sống và cái chết, giữa thiện và ác, quyết liệt và không khoan nhượng.

Ta khó mà luận giải chính xác những thị kiến và tiên tri mà thánh Gioan đã viết trong sách Khải Huyền về cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, cùng những hậu quả vô cùng thảm khốc kinh hoàng của nó (Kh 12 – 18).

Đâu là lối thoát?

Con đường giải thoát

Chúa Giêsu nói: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7, 13- 14). Thỏa mãn, chiều theo dục vọng xác thịt là con đường thênh thang của sự hư mất. Thật vậy, “Hướng đi của tính xác thịt là phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa” (Rm 8,7).

Đó là con đường của hy sinh, chấp nhận đau khổ mà Chúa Giêsu đã làm gương cho ta: “Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta” (Mt 16, 24).

 

4) SỨ MỆNH CON NGƯỜI

Sống là để yêu thương.

Thánh Phaolô quả quyết: “Ai yêu thương thì đã chu toàn lề luật” (Rm 13, 10)

Yêu thương là khắc tinh của cái ác. Yêu thương xóa bỏ hận thù, xóa hờn ghen, xóa kiêu căng ích kỷ mà hậu quả là đưa đến cái chết tinh thần.

Khi con người chưa trưởng thành, thì phải có nhiều luật lệ để duy trì xã hội: phải có thưởng có phạt. Khi con người là anh em thực sự với nhau, yêu thương nhau như lời Chúa dạy, luật chỉ là thứ yếu. Luật lệ biến thành những quy định cơ cấu tổ chức.

Phải hiểu yêu thương trong ý nghĩa đỉnh cao của sự thiện. Ta mới thấy ý nghĩa thực của nó.

Đạo Chúa là đạo yêu thương, là sứ mệnh của con người. Yêu thương đem đến sự công chính, hoan lạc, hạnh phúc, sự sống, sự tăng trưởng.

 

Kết luận:

Trong khuôn viên trụ sở Liên Hiệp Quốc, ở Nữu Ước, có bức tượng thiên thần Micae với đôi cánh và cái đao dài, đánh con quỷ dữ có cặp sừng nhọn hoắt nằm gục dưới chân. Bức tượng diễn tả cái thiện rồi sẽ thắng cái ác giữa các dân tộc. Biết đến bao giờ?

Con người, luôn bị ma quỷ phủ dụ lôi kéo vào đàng xấu: nói thế thôi chứ có sao đâu mà! “chẳng chết chóc gì đâu” (St 3, 4).

Trong sách Sáng Thế, sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã phán với con rắn: “Ta đặt mối thù giữa mi và người phụ nữ, giữa giòng dõi mi và giòng dõi người ấy, người ấy sẽ đạp nát đầu mi, còn mi sẽ rình cắn gót chân người” (St 3, 15).

Người nữ mà thánh kinh đề cập là ai ?

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *