12. Con Người và Cái Chết

 

 

 

 

 

 

 

Chết là dấu chấm hết.

Có người tiều phu kia đốn củi, công việc nặng nhọc quá liền than: ước chi thần chết rước quách ta đi cho rồi. Thần chết hiện ra. Người tiều phu liền nhanh nhẩu thưa: ngài làm ơn đưa bó củi lên vai tôi. Cuộc đời dù khổ đau còn hơn phải chết.

J.P. Sartre thì cho rằng: sống là buồn nôn và chết là sự thất bại lớn nhất của con người. Ngược lại, thánh Phaolô đã không sợ chết: “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô và chết là mối lợi” (Pl 1, 21).

Cái chết có đáng sợ không? Nó là ngõ cụt hay sẽ đưa ta đi đâu?

 

1) MỘT SAI LẦM CỦA NHẬN THỨC

Giác quan đánh lừa ta nhiều lắm, như phim ảnh chẳng hạn, thực ra chỉ là những tấm ảnh đơn được chụp liên tiếp, trên màn hình ta xem, chúng như di động vậy. Cái chết cũng thế, ta hoảng sợ vì nhận thức sai lầm chết là vào cõi hư vô, là biến mất mãi mãi, là trở thành không có gì nữa.

Con vật sống theo bản năng. Tôi nghĩ nó sợ chết chỉ vì bản năng sinh tồn chứ không vì ý thức sau khi chết nó sẽ ra sao. Còn con người thì khác, nó có nhận thức, sống theo dự phóng. Ta sẽ bình tâm và không sợ hãi gì nếu ta không biết trước cái gì sẽ xảy đến. Trước một tai nạn đột ngột không biết trước, ta vẫn bình thường đấy thôi.

Bạn sợ gì chết. Như Epicure nói: khi đang sống thì ta chưa chết; khi chết thì ta không biết gì nữa, việc gì mà sợ chết.

Tôi dám chắc bạn vẫn sợ chết dù có được trấn an như trên. Vì bạn biết chắc trước, là bạn sẽ không tránh được cái chết, một ngày kia bạn sẽ phải chết “nhân sinh tự cổ thùy vô tử” (từ xưa đến nay có ai mà không chết).

  • Quan niệm cái chết của Ấn Giáo và Phật Giáo:

Khi  ta nhìn thi thể người thân mới mất, nằm im bất động, không biết gì nữa, thông tin gián đoạn hoàn toàn. Thân xác này rồi sẽ thối rữa ngày một ngày hai. Ta hoảng sợ là phải. Cái thân thể này không còn nạp oxy để sinh hoạt: não bộ và ngũ quan không hoạt động nữa, thì lấy gì mà trao đổi thông tin. Chết là hết.

Phật Giáo cho rằng nghĩ như thế là sai lầm, là không thấy chân tướng sự vật, lẽ vô thường của tự nhiên. Nếu bạn bị thiểu năng, mất đi giác quan khứu giác chẳng hạn ngay từ lúc mới sinh. Trí não bạn sẽ không nhận thức được mùi hương thơm thối là gì. Nay thì trí não bạn cũng không còn, lấy gì mà nhận thức sự việc. Ngay cả bản thân bạn, hôm nay khác hôm qua: tế bào cấu thành thân xác bạn đã thay đổi rồi. Đó là lẽ vô thường, “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.

Khi nhận thức được lẽ vô thường, bạn sẽ coi cái chết là bình thường, không có gì phải sợ. Đức Phật dạy: có sinh thì có diệt. Như thân xác ta là ngọn sóng. Nó phát sinh đó, bồng bềnh lúc to lúc nhỏ, lúc cao lúc thấp. Rồi nó biến mất. Nó là nước, trở về với nước là cái thường hằng của nó.

Phật Giáo cũng cho rằng, thân xác ta là vật chất, nó sẽ tan biến đi khi ta chết. Còn thần thức thì vẫn tồn tại. Cái nghiệp lực là cái của ta, sẽ theo ta đi vào kiếp sống mới với hình hài mới, gọi là tái sinh. Sống tốt thì không sợ phải chết.

  • Kitô Giáo với quan điểm về sự chết:

Giống như Phật Giáo coi con người có thân xác hữu hình hay hư nát, linh hồn bất tử và khi chết thì tái sinh, thánh Phaolô coi con người cũng có một thân xác “Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt” (1 Cor 15, 53), “Nếu có xác khí huyết thì cũng có xác thần thiêng” (1 Cor  15, 44). Sau khi xác chết đi, nó lại được phục sinh.

Sự phục sinh là điều cốt lõi của Kitô Giáo: “Nếu Chúa Kitô không sống lại thì đức tin của ta là điều vô ích… Chúng ta là những người ngu dại nhất, vì chúng ta tin tưởng vào điều hão huyền” (1 Cor 15, 12…19).

Tranh luận với những người không tin vào sự sống lại mà họ xem như điều nghịch lý, không thể “Kẻ chết trỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về” (1 Cor 15, 35-36). Thánh Phaolô giải thích: “Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống. Cái ngươi gieo không phải là hình thể sẽ mọc lên, nhưng là một hạt trơ trụi”(1 Cor 15, 37). Điều này thánh Gioan nói rõ:“Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”( Ga 12, 24). Cái chết là điều cần phải có để thoát xác cho sự sống lại. Người ta chết chỉ một lần.

Như vậy, chết là cơ hội để phục sinh.

  • Khoa học hiện đại nói về sự chết:

Khoa học ngày nay có những bước tiến lớn, rộng mở. Với phương tiện kỹ thuật chưa từng có, xăm soi đến từng góc cạnh của đời sống; với những ý tưởng táo bạo làm đảo lộn những gì tưởng chừng như vĩnh viễn là chân lý trường tồn. Những khái niệm của “cõi âm” dần được minh bạch hóa dưới ánh sáng khoa học.

Vật lý lượng tử là lãnh vực, tuy không mới lắm, nhưng bước đầu cũng vén màn bí mật cho ta thấy: ngoài thế giới rắn ta đang sống thì còn vô số tri thức mênh mông vi diệu mà ta chưa biết đến. Những kiến thức ta biết qua ngũ quan quá hạn hẹp như ếch ngồi đáy giếng. Những thiên kiến quá sai lầm trói buộc ta vào cõi vô minh, cản trở trí tuệ ta hiểu biết thế giới chung quanh.

Ta không biết thế giới nào khác ngoài bước sóng ánh sáng mà mắt ta cảm nhận; nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh; sóng âm quá thấp hoặc quá cao; sóng vô tuyến điện thoại, internet… vẫn hiện diện quanh ta mà ta nào có cảm nhận. Thế giới vô hình phản vật chất nào có biểu hiện gì ngoài trí tưởng tượng của ta. Không phải chúng không có.

Thần thức, sau khi thân xác ta chết, vẫn còn tồn tại. Nói như nhà vật lý John Polkinghorne, là chất liệu “sẽ được Chúa dùng để tái sinh”. Theo giáo sư Hans-Peter Dürr, nguyên giám đốc viện vật lý Max Planck, Munich, Đức: “Chúng ta mới chỉ nhìn thấy khía cạnh vật chất của thế giới này. Thứ tạo ra thế giới nằm ở ngoài khía cạnh vật chất và nó lớn hơn rất nhiều so với thế giới này. Theo cách này, cuộc sống hiện tại của chúng ta đang được bao bọc bởi cuộc sống sau khi ta chết”.

Nhà vật lý hạt nhân đồng thời là nhà sinh học phân tử Jeremy Hayward, thuộc đại học Cambridge (Anh) cho hay: “Sẽ thật là sai lầm nếu chúng ta loại bỏ linh hồn ra khỏi tự nhiên”.

Nhiều nhà khoa học hiện đại cũng đồng ý với  quan niệm chết không phải là đi vào cõi hư vô, nhưng ta sẽ còn tồn tại một cách nào đó.

     

2) TÌNH YÊU THẮNG VƯỢT SỰ CHẾT      

Khắc tinh của sự chết là tình yêu. Vì tình yêu là sự sống là tăng trưởng, đi ngược với sự chết là suy thoái, hủy diệt. Đó là quy luật của muôn đời: những cộng đồng nào hòa hợp, yêu thương nhau, chắc chắn tồn tại và phát triển. Ngược lại xâu xé nhau, bất hòa thì sớm muộn cũng tan vỡ.

  • Tình yêu đích thực:

Ta hay lầm lẫn giữa tình cảm thông thường của con người với nhau và tình yêu đích thực trong thánh kinh thường gọi là agapé. Chúng khác nhau nhiều. Tình yêu đích thực, nói như thánh Phaolô: “Đức mến (tình yêu agapé) thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cor 13, 4-7).

Đặc tính nổi trội của loại tình yêu này là thứ tình cảm quên mình, vị tha, không loại trừ ai, ngay cả kẻ thù. Một tình yêu cao thượng : “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ” (Lc 6, 32).

Chúa Giêsu dạy các môn đệ thứ tình yêu vô vị lợi này. Các bậc cao tăng, tu hành chân chính, các bậc thầy rèn luyên Yoga, các thánh nhân Kitô Giáo luôn thực hành thứ tình yêu này với đời. Họ quên bản thân, từ bi hỷ xả. Họ đã đạt đạo, từ bỏ được cái tôi, cái tiểu ngã đáng ghét để hòa mình vào bản ngã của vũ trụ.

  • Tình yêu đích thực đem lại bình an tuyệt diệu:

Chúa Giêsu tâm sự rất dài với các môn đệ trong buổi tiệc chia tay, trước cuộc tử nạn vô cùng đau thương, Ta đọc và suy nghĩ trong phúc âm thánh Gioan, đoạn 13-17. Tựu trung hai vấn đề Chúa Giêsu nhấn mạnh:

          –Yêu thương:

Bằng hành động rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu làm gương phục vụ yêu thương, quên mình. Rồi Ngài nói: “Thầy ban cho anh em điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 34). Ngài dặn dò, dặn đi dặn lại: hãy yêu thương nhau.

          –Bình an:

Bước vào chia ly, mất mát và đau thương với một bầu không khí ảm đạm chết chóc. Các môn đệ, phần vì nghĩ phải xa cách mãi mãi người thân, phần vì sợ chết, Chúa Giêsu trấn an họ: “Thầy để lại bình an cho anh em… Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14, 27) và  cái chết là để “Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 2).

Tiệc ly là bài học cho ta về tình yêu và sự chết. Sở dĩ ta sợ là vì ta không biết ý nghĩa sự chết, chết rồi ta đi đâu và làm thế nào để vượt thắng sự chết.

 

Đây là minh họa về 2 cái chết trái ngược:

          –Cái chết của Voltaire:

Francois-Marie Arouet hay Voltaire (1694-1778) là nhà văn và nhà triết học lỗi lạc của nước Pháp, được Quốc Hội Pháp tôn vinh là người mở đường cho cuộc cách mạng tư sản 1789. Mộ của ông được dời về Panthéon, nơi chôn cất các danh nhân nước Pháp, cả triệu người cùng tham gia rước cốt.

Sinh thời, Voltaire rất giàu có, lại rất nhiều tài năng. Ông là nhà vô thần nổi tiếng và có tài dùng ngòi bút châm biếm đả kích Chúa Giêsu và Giáo Hội Pháp, mà ông cho là rất hủ bại, mê tín. Nhưng vào cuối đời, Voltaire dù thọ 84 tuổi, cũng đã chết. Nói về cái chết của ông, có tư liệu mô tả “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ dội như Voltaire”. 

Voltaire đã tiếc nuối của cải, danh vọng, cái tôi của mình và đã khô héo như cành nho gẫy.

 

          –Cái chết của ông già Simeon:    

Simeon là cụ già sống ở Giêrusalem. Ông là “người công chính và sùng đạo” (Lc 2, 25) Chờ đợi Đấng Cứu Thế ra đời và khi được ẵm Ngài trong tay. Cụ đã thốt lên: “Xin để tôi tớ này được an bình ra đi” (Lc 2, 29). Cụ Simeon đã có cái  chết thanh thản vì đã thấy được Đấng Cứu Độ.

 

Kết luận:

Cái chết chẳng có gì đáng sợ, trái lại là điều mong ước nếu ta nhìn rõ bản chất của nó. Ta biết nó có ý nghĩa gì và chuẩn bị trước bằng cuộc sống như lời Chúa dạy: “Ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5, 29).

Nói mạnh mẽ như thánh Phaolô: “Chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cor 5, 8).

Lưu Trọng Lư khát vọng và mơ tưởng về một thứ tình yêu đem lại hạnh phúc thật, tròn đầy và vĩnh viễn:

      “Chờ anh dưới gốc sim già nhé,

       Em hái đưa anh đóa mộng đầu”

Tình yêu này không hiện diện ở cái kiếp trần gian hạn hữu mà ta đang sống.

Phải là tình yêu đích thực mới chiến thắng được sự chết và cái tình yêu thuần khiết, viên mãn, thi vị này sẽ giải thoát ta khỏi khổ đau tục lụy.

 

Lúc đó người ta sẽ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng và “hân hoan như trong một giấc mơ”.

 

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *