9. Con Người và Mộng Ảo – (Đi tìm chân tướng)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chẳng phải là nhà triết học để nói chuyện “hư vô”, “hữu thể”, trẻ con Việt Nam ta, từ thuở ấu thời đã biết chơi trò tập tầm vông.

Tôi nhớ từ lúc tấm bé, mới biết đếm một hai ba gì đó, thì chúng tôi đã biết chơi trò này rồi: nắm trong tay một cục sỏi nhỏ, xoay cánh tay vài vòng, hỏi bạn chơi tay nào thì có tay nào thì không. Rồi xòe tay ra: năm ăn năm thua. Có đứa ma mãnh, chẳng nắm cục sỏi nào,

cũng hỏi tay nào có, tay nào không. Đối phương nắm chắc phần thua vì đoán sai 100%.

Khi lớn lên, thì “có” và “không” không phải là chuyện đùa của trẻ con nữa mà là vấn đề nghiêm túc cốt lõi của nhân sinh.

Nếu nhân sinh là hư ảo, là mộng mị, là chiêm bao thì không nói làm gì. Nhưng nếu nó là thực thì ta phải sống làm sao đây?

 

1) THẾ GIỚI NÀY LÀ THỰC HAY ẢO? HIỆN TƯỢNG VÀ CHÂN TƯỚNG

Chẳng có ai coi ngoại cảnh chỉ là ảo giác khi phải đối diện với cái đói cồn cào ruột gan, khi phải chịu đựng cái rét như cắt thịt cắt da. Chỉ khi nào “rửng mỡ”, “no cơm ấm cật”, thì ta mới bàn chuyện xa xôi. Ngạn ngữ La Tinh có câu: “manducare deinde philosophare” (ăn cái đã, triết lý thì sau).

Như thế, hư thực chỉ là sản phẩm của suy tưởng, của duy lý. Khổ nỗi, đã là con người thì ai cũng phải suy nghĩ, nói như Blaise Pascal “Con người là cây sậy biết suy nghĩ”. Nếu tước bỏ trí óc suy tưởng, thì con người chỉ là một thực vật như cây sậy mà thôi.

Suy luận là con đường đi tìm chân lý của lý trí. Sự kiện được trải nghiệm qua các giác quan hạn hẹp của ta, rồi dựa trên những kinh nghiệm đó mà đi tìm chân tướng sự vật. Lý trí chỉ là một con đường, chưa chắc đã khả tín nhất, để đi tìm chân lý. Người ta lầm to và tưởng rằng chỉ có lý trí mới duy nhất đạt tới chân lý.

Sản phẩm khoa học là kết quả của lý trí con người: từ quan sát, đặt giả thuyết, kiểm chứng, tìm ra quy luật và kết luận, cho ra một tri thức khoa học khách quan, có hệ thống.

Tuy có quy trình nghiêm nhặt, kiểm chứng chắc chắn, nhưng biết bao kiến thức khoa học đã sai nghiêm trọng. Cái sai này không phải do bất cẩn, nhưng nó đến từ sự bất toàn, giới hạn của chính lý trí.

Ta có thể kết luận: kiến thức khoa học chỉ có tính tương đối, chỉ mô tả được hiện tượng còn chân tướng sự vật thì là vấn đề phải bàn.

Có con đường nào khác ngoài lý trí để nhìn  ra chân tướng sự vật?

 

2) THIỀN ĐỊNH: MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC ĐI TÌM CHÂN LÝ

Khác với nguyên tắc lý trí khi tìm hiểu sự vật: coi sự vật như đối tượng nghiên cứu. Khi ta ngắm một bông hoa, ta là chủ thể còn bông hoa là khách thể khác biệt với ta. Đó là phép nhị nguyên. Ta là người quan sát và có thể dùng mọi phương tiện kỹ thuật có được để tìm hiểu hiện tượng. Yếu tố khách quan chiếm ưu thế. Đây là nguyên lý của khoa học Phương Tây.

Thiền thì khác, theo họ, để hiểu tường tận sự vật thì phải hòa mình vào sự vật. Muốn làm được điều đó, phải tập trung tư tưởng, loại bỏ mọi tạp niệm, tạo không gian và điều kiện để trí tuệ được thăng hoa, soi rọi vào sự vật một cách tinh tường để nắm vững bản chất là cái che giấu bên trong. Đây là phép đồng nhất. Yếu tố chủ quan chiếm ưu thế. Đây cũng là nguyên lý của triết học Đông Phương.

Các thiền sư Thiên Chúa Giáo đã biết áp dụng thiền định từ xa xưa, vì họ ẩn tu nên ít người biết đến. Thánh Gioan Tiền Hô là một ví dụ điển hình: ngài sống nhiệm nhặt trong sa mạc hoang vắng, mặc áo lạc đà và ăn châu chấu, mật ong rừng.

Anatasius, giám mục thành Alexandria viết về thánh Anthony (250-356) đã quy tụ hàng ngàn tu sĩ sống đời chiêm niệm: “Ngài đơn độc vào sa mạc, ẩn trú trong hốc đá. Cứ 6 tháng, ngài đi lấy lương thực một lần. Ngài ở đơn độc như vậy trong nhiều năm để tu luyện cách từ bỏ mình”.

Mục đích của thiền là gạt bỏ đi những vọng niệm, những ảo ảnh, những sai lạc của thiên kiến, những giới hạn của ngôn ngữ lý trí để chiêm niệm và đến với Thiên Chúa là hữu thể tinh tuyền.

Theo tôi nghĩ cả hai phương pháp ngoại quan và nội quan, hoặc phối hợp cả hai, như đã trình bày sơ lược ở trên, đều không thể đạt đến chân tướng sự vật. Đơn giản là vì Thượng Đế không thiết kế cho ta khả năng đó. Thánh kinh cho ta biết điều ấy. Thiên Chúa thì toàn tri. Chúng ta được tạo dựng, chỉ là hình ảnh của Ngài mà thôi.

 

3) THÁNH KINH NÓI CHUYỆN HƯ THỰC

  • Hữu thể tuyệt đối:

Hiện thực tuyệt đối của Lão Giáo là Đạo: Đạo là một nguyên lý vi diệu, siêu hình và không suy nghĩ tới được, vô biên, bất biến, vô thủy vô chung, đã có từ trước khai thiên lập địa, vũ trụ từ đó mà hình thành, không định danh bằng ngôn ngữ được.

Chân Như là khái niệm hiện thực tuyệt đối của đạo Phật. Chân Như là thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn vật. Nó thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức của ta, là cái chân tướng bất biến của mọi hiện tượng.

Hiện thực tuyệt đối của Khổng Giáo: Khổng Tử tin có một Thái Cực tuyệt đối hiện hữu, nhưng vì cái Lý ấy cao siêu quá, trí tuệ con người không có khả năng đạt tới cho nên chỉ xem xét đến cách nó hoạt động, đó là học thuyết dịch lý.

Trong Cựu Ước, khi Môisê đang chăn cừu trên núi, thấy đám lửa cháy trong bụi gai và nghe tiếng phán: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh… Ông Môisê che mặt đi vì sợ nhìn phải Thiên Chúa” (Xh 3. 5-6). Môisê hỏi Đức Chúa Ngài là ai, để còn nói lại cho những người Do Thái. Chúa trả lời cho ông: “Ta là Đấng Tự Hữu” (Xh 3, 14). Chỗ khác Chúa phán: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta vì không ai thấy mặt ta mà còn sống” (Xh 33,20).

Như vậy, Thượng Đế là hiện thực vĩnh hằng, là cái thực, cái có.

Từ đó suy ra: Thiên Chúa là hiện thực tuyệt đối. Ta biết được sự hiện diện của cái thực này, nhưng nó như thế nào thì không rõ.

Thật sự thì con người không được thiết kế để hiểu cái tuyệt đối nó như thế nào. Vì thế, ta cần đến mạc khải để hiểu Thiên Chúa là gì và ta chỉ hiểu được Ngài khi Ngài tự tỏ mình ra cho thấy, như Chúa Giêsu nói: “Không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ mà người Con mạc khải cho” (Mt 11, 27).

Nói chung, các tôn giáo từ Đông sang Tây đều coi vũ trụ này là có và cái thực thể tối hậu, từ đó sinh ra vạn vật hữu hình này, là tuyệt đối và không thể suy tưởng được.

  • Hữu thể vô hình:

Như đã trình bày ở trên, các tôn giáo, các nhà tư tưởng đều phải chấp nhận con người không thể dùng trí suy mà biết được Thượng Đế, chỉ biết Ngài hiện hữu mà thôi. Nếu thế, ta phải chấp nhận tri thức gọi là mặc khải, là kiến thức do Ngài tự tỏ lộ ra cho biết. Thánh Kinh được Thượng Đế linh hứng, là loại tri thức như vậy.

Thánh Kinh nói gì về hữu thể vô hình? Thiên thần và ma quỷ.

      – Thiên thần:

Là tạo vật do Thượng Đế tạo dựng, vô hình. Nghĩa là trước đây đã có lúc không có.

Thiên thần được tạo dựng để thờ phượng (Mt 18, 10), (Dt 1, 4 -11), phục vụ Thiên Chúa (Mt 4, 11), (Lc 22, 43). Thánh kinh, cả Cựu Ước và Tân Ước đề cập rất nhiều lần sự hiện diện của thiên thần, có tên và cấp bậc hẳn hoi, như Michael, Gabriel, Raphael… là những tổng lãnh thiên thần và các thiên thần khác nữa …

      – Ma quỷ:

Ma quỷ là những thiên thần phản nghịch, chống lại Thiên Chúa và mang bản chất xấu xa.

Tuy vô hình nhưng chúng có thực. Ngay từ đầu lịch sử, trong vườn địa đàng, chúng đã xuất hiện và đeo bám ta mãi cho đến lúc ta nhắm mắt xuôi tay. Mục đích của chúng là làm cho ta xa rời Thượng Đế vì ganh tức lòng thương của Chúa với con người. Bản chất của chúng là sự dữ, là xấu xa, như Chúa Giêsu đã nói: “Khi nó nói dối là nó theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8, 44).

  • Thực thể hữu hình:

      – Con người:

 “Nhân linh ư vạn vật” có nghĩa là con người thì cao quý hơn mọi sinh vật vì nó biết suy nghĩ, có lương tâm, có tự do. Muông thú thì chỉ sống theo bản năng, còn vũ trụ trời trăng mây nước, tuy lớn nhưng cấu tạo lại đơn giản.

Sách Sáng Thế kể lại: sau khi tạo dựng vũ trụ vạn vật và thấy mọi thứ đều tốt đẹp. Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1, 26). Thượng Đế tạo dựng con người vật chất hữu hình, đồng thời ban quyền làm chủ, quản lý vạn vật. Theo hình ảnh Thiên Chúa, nghĩa là con người có phần tâm linh, suy nghĩ, sự tự do và ý chí.

Trong Tân Ước Chúa Giêsu cũng phán với các môn đệ: “Các con còn quý hơn chim sẻ nhiều” (Luc 12, 7).

      – Vạn vật:

Từ ánh sáng, đến các tinh tú, chim trời cá biển và mọi thứ hiện hữu trong vũ trụ, không có gì mà không bởi Chúa tạo nên, trong 6 ngày đầu. Ta không nghĩ 6 ngày là 24 giờ x 6. Thực ra như thánh Phêrô nói trong thơ thứ 2 đoạn 3 câu 8: thời gian của Chúa một ngày ví thể ngàn năm.

Vũ trụ, vạn vật hữu hình mà ta đang thấy là có thực. Tuy nó biến hóa đa dạng, lúc thì thể hơi, khi thì lỏng, đặc, lúc thì hóa thành năng lượng, mắt ta nhiều khi không thấy được. Chúng không mất đi nhưng tồn tại ở một dạng nào đó. Ngoại hình và giác quan đánh lừa ta.

 

Theo Phật Giáo có sinh thì có diệt. Vũ trụ đã có khởi đầu ắt phải có lúc kết thúc. Vật chất đã có khởi đầu sẽ có lúc tan biến đi. Sách Giảng Viên viết: “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1, 1-2).

 

Con người có phần tâm linh là linh hồn, tồn tại không theo quy luật vật lý của thể xác.

 

Max Planck là thầy giáo của Albert Einstein, cha đẻ thuyết lượng tử, đạt giải Nobel năm 1918 nói: “Trên thế giới căn bản không có thứ gọi là “vật chất”, vật chất là do lượng tử dao động với tốc độ cao tổ hợp thành”. Ta biết vật chất là do các nguyên tử cấu thành mà các nguyên tử gồm các điện tử quay quanh nhân. Nhân này chỉ bằng hạt cát so với trái đất là khoảng cách các điện tử quay quanh. Nghĩa là mọi thứ đều rỗng không. Vật chất mà ta đang thấy chỉ là ảo ảnh, có đó rồi không đó, như bọt nước sóng biển, cây cỏ nay còn mai mất.

 

Thật vậy, thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô: “Những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2 Cor 4, 18).

 

Kết luận:

Trước đây 2, 3 chục năm, nhiều lắm là 90, 100 năm, chưa ai trong chúng ta có trên đời. Chúng ta chỉ là hư không. Ma quỷ nhập nhằng đánh lận con đen, gieo vào lòng ta thuyết hư vô: rồi đời sống cũng chỉ là không thôi mà. Tất cả là vô thường, sắc sắc không không. Cứ ăn chơi cho đã, tội gì!

 

Với đức tin của người có đạo thì đời sống ta lại là một lời cám ơn chân tình với Thượng Đế, Đấng đã cho ta có hình hài, kéo ta ra khỏi hư không. Khi ta sa ngã vào đường tội lỗi, dẫn đến sự chết, thì Ngài ban ơn cứu độ bằng máu châu báu của Ngài và hứa cho ta được tham phần vào đời sống thần linh, nếu ta biết chọn Ngài làm gia nghiệp: “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 3, 36). 

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *