12. Đạo Chúa Có Nên

LỜI GIỚI THIỆU

Các bạn đang cầm trong tay một “Lời trần tình” rất ngắn gọn về ý nghĩa của hạnh phúc và cùng đích cuộc sống. Các bạn có thể loại bỏ nó như một thứ tư liệu nhảm nhí vô tích sự. Con người có tự do mà!

Nhưng biết đâu, đó chẳng là một cơ duyên, một món quà quý giá mà Thượng Đế đặc biệt ưu ái đem đến cho bạn.

Tôi hy vọng những suy tư chia sẻ hết sức ngắn gọn, rành mạch, lý lẽ thuyết phục sẽ giúp các bạn có cái nhìn đúng đắn, trí thức, giản đơn về đức tin của người có đạo. Các bạn sẽ thấy đi dạo là chuyện đương nhiên, là hạnh phúc, là ý nghĩa tất yếu của cuộc sống.

Tân phúc âm hóa là gì? Theo tôi đơn giản chỉ là lược bỏ đi những rườm rà hình thức, những suy diễn lan man, cảm tính sai lệch, để trở về với những giáo huấn đơn sơ của Chúa Giêsu trong phúc âm và sống đúng tinh thần như vậy: thờ Chúa trong thần khí và sự thật.

Thánh Basilliô Cả diễn tả nội dung ấy mà tôi thấy hết sức chí lí về ý nghĩa thật của đời sống Kitô hữu:

“Nếu xa lánh sự dữ vì sợ bị phạt (sa hỏa ngục…), chúng ta sống như tên nô lệ. Nếu chạy theo phần thưởng (để được lên thiên đàng…), chúng ta khác nào kẻ làm thuê. Nếu chúng ta tuân phục vì sự thiện và vì yêu mến Đấng ban hành lề luật, chúng ta mới thực sự là con”.

Sống đạo là sống tình cha con với Thượng Đế, đơn giản vậy thôi.

Xin giới thiệu sau đây vài nét về đạo Chúa: khái quát tín lý, luân lý và tu đức học Kitô Giáo.

  1. KITÔ GIÁO: KHÁI QUÁT TÍN LÝ, LUÂN LÝ
  2. Đường vào Kitô Giáo:
  3. Cảm thức tôn giáo:

Khi con người sơ khai mông muội “vỡ òa” tri thức, nó bỗng thấy mình “trần trụi” và thế giới chung quanh thì đầy ngạc nhiên thích thú, đầy thi vị và xao xuyến lạ thường.

Bình minh rộn rã, nắng trưa, rồi chiều tà, nó bắt đầu cảm thấy nảy sinh trong lòng một nỗi hoang mang sợ hãi vu vơ: có bước chân ai dường như lướt nhẹ trên ngọn cỏ lá cây. Con người cảm nhận một thế lực vô hình nào đó bao trùm trên thân phận mỏng manh và liền thắc mắc: mình từ đâu đến nhỉ? Làm gì ở đây vậy? Rồi sẽ đi đâu bây giờ?.

Như vậy, cảm nhận tôn giáo là cái gì thuộc bản chất cố hữu của con người sơ khai bắt đầu có nhận thức. Cũng từ đó, nó dấn thân vào một cuộc lữ hành tìm kiếm lý lẽ uyên nguyên của tồn tại, của cuộc hiện hữu. Ý niệm tôn giáo xuất hiện tự nhiên như một hơi thở, như một lẽ sống không thể thiếu được.

  • Con người có khả năng gặp gỡ Đấng Vô Hình?

Người ta kể rằng: Yuri Gagarin, phi hành gia người Nga là người đầu tiên vào quỹ đạo trái đất trên phi thuyền Phương Đông năm 1961, nhìn về trái đất xa xa ông tuyên bố khảng khái: Tôi đã ra ngoài địa cầu và chẳng thấy Thượng Đế đâu cả.

Thưa các bạn, đối tượng nghiên cứu khoa học là vật chất và những quy luật chi phối nó. Dù có bay ra ngoài rìa vũ trụ, mà theo các nhà khoa học thì cách ta hàng tỉ năm ánh sáng, cũng chẳng ai thấy được Thượng Đế, vì Ngài đâu phải là vật chất để có thể thấy. Huống chi phi hành gia này mới lò mò ra được có vài trăm km, chỉ bằng 0.001 giây ánh sáng.

Rồi đến các nhà triết học, từ cổ đại đến nay, tù mù, loay hoay thuyết này thuyết nọ, tìm cách lý giải cái lý lẽ uyên nguyên của vạn vật: hết duy vật, duy tâm, đến duy lý, duy nghiệm… Miết rồi chán quá, kết luận Thượng Đế thì bất khả tri (agnosticism), hay nói khỏe re như triết gia Nietzche: “Thượng Đế đã chết”, khỏi bận tâm nữa làm gì… Nhưng mối khắc khoải bận tâm nọ thì vẫn còn đó khôn nguôi.

Triết học, suy cho cùng cũng chẳng hiểu rõ được Đấng Vô Hình, vốn vượt lẽ khôn ngoan của con người với cái trí óc hạn hẹp cỏn con của mình.

Karl Jaspers, một triết gia và nhà phân tâm học Đức xuất sắc và có tầm ảnh hưởng rất lớn trong trào lưu triết học và phân tâm học hiện đại, cho rằng: “Ven bờ biên giới của lý trí là sự bất khả quan niệm và là một huyền nhiệm. Những điều bất khả quan niệm không có nghĩa là những điều phi lý” (Karl Jaspers, những triết gia lớn, Munchen/ Zurich 1997).

Đó là giới hạn của triết học và cũng là khởi điểm của lãnh vực tôn giáo và đức tin, lãnh vực của huyền nhiệm.

Tôn giáo vậy là:

  • Một cảm thức hết sức đơn sơ chất phác của bà già nhà quê xì xụp khấn vái cái bình vôi, gốc cây đa.
  • Một chiêm niệm của nhà bác học Louis Pasteur, khi ông thấy hiện ra trước ống kính hiển vi của mình thế giới vi sinh vô cùng lạ lùng, khiến ông phải thốt lên: “Tôi thấy Thượng Đế đầu ống kính hiển vi của tôi”.
  • Một “Ông Trời” rất xa và cũng rất gần của đa số người Việt Nam ta, tượng trưng cái bàn thiên nghi ngút khói hương giữa sân nhà.
  • Một giây phút xuất thần, giác ngộ chân lý vĩnh hằng của Đức Phật khi tọa thiền dưới gốc cây bồ đề, mong thoát ra khỏi cái bể khổ nhân sinh.
  • Một thiên khải của thánh Allah cho Ngài Mahomet.
  • Hoặc như sự ra đời của Chúa Giêsu, sự mặc khải của chính Thượng Đế, với mầu nhiệm nhập thể thông qua dòng lịch sử ơn cứu độ, Cựu Ước và Tân Ước nơi dân tộc Do Thái.
  • Kitô Giáo: Tín lý và luân lý
  • Tín lý: 

Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo cùng chung một nguồn gốc khởi  đầu từ lời mời gọi của Thượng Đế cho tổ phụ Abraham rời bỏ quê hương, ra đi lập  một dân riêng của Ngài : “Thượng Đế mạc khải cho Abraham, Ngài tuyển chọn dân riêng Ngài qua miêu duệ ông” (G 12, 1).

Kitô Giáo cho rằng : Thượng Đế, Đấng toàn năng,  có ba ngôi vị nhưng duy nhất là một Chúa, sáng tạo vũ trụ và trong lịch sử đã tiếp xúc, tỏ mình ra và dạy dỗ con người nhiều lần qua các tiên tri thời Cựu Ước. Ban hành những luật lệ để họ có thể sống phù hợp với căn tính của mình (10 điều luật của Thiên Chúa cho Môisê).

Đến thời cuối cùng, Ngài đã tỏ lộ ra qua đức Giêsu, con yêu dấu, là Đấng Messiah (tiếng Do Thái), Christos (Kitô) (tiếng Hy lạp), nghĩa là  người được xức dầu, như lời kinh thánh đã loan báo : “Sau khi phán dạy nhiều lần, nhiều cách qua các tiên tri, này là thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Chúa Con” (Dth 1, 1-2).

Đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa, mặc lấy xác phàm. Sinh ra bởi Đức trinh nữ Maria, Ngài sống ở trần thế 33 năm (ngày nay thuộc vùng đất Palestine), làm nhiều phép lạ, giảng dạy cho các môn đồ giáo lý của Ngài và sau cùng tự nhận cái chết cực hình trên thập giá, như một giá máu phải trả, để con người vốn đã bị thất sủng vì tội lỗi được giao hòa lại với Thiên Chúa, là Đấng vô cùng thánh thiện và toàn hảo (mời bạn tham khảo tài liệu video phóng sự khảo cổ học của đài BBC: “BBC Jesus,  the real history” (google search) ).

Ngày thứ 3 sau khi được mai táng, Chúa Giêsu thắng vượt sự chết, sống lại, gặp các môn đệ, ban Thánh Thần, lệnh cho họ lập Giáo Hội, truyền giảng tin mừng cho các dân tộc, Ngài cũng lập các bí tích để thông ban ơn sủng . Ngài hứa sẽ lại đến khi mãn thời để phán xét chung thẩm.

Con người thời cánh chung, hồn sẽ kết hợp với xác sống lại, kẻ dữ bị phạt sa hỏa ngục, kẻ lành được thưởng phúc đời đời ở thiên đàng, được thông phần vào đời sống hạnh phúc viên mãn của Thượng Đế .

  • Luân lý:
  • Luân lý tự nhiên: lương tâm.

Để tồn tại và sinh trưởng, vạn vật đều phải được vận hành theo những quy luật. Ở loài vật, thiên nhiên phú cho một bản năng  sinh tồn. Ở con người có trí tuệ, có sự tự do lựa chọn, có xã hội tính, ngoài bản năng còn có một cơ chế để hành xử giúp con người tồn tại và phát triển hài hòa. Đó là lương tâm.

Lương tâm là những quy luật luân lý sơ đẳng mà thiên nhiên phú bẩm cho mỗi người, để hành xử cho phù hợp trong quan hệ xã hội.

Lương tâm là khả năng phân biệt lành dữ, thiện ác, điều nên làm hoặc nên tránh. Bạn sẽ thấy lương tâm cắn rứt khi làm điều không hợp đạo lý, ngược lại cảm thấy thanh thản hân hoan khi làm điều lành và có ích .

Thánh Thomas d’Aquin coi sự hiện diện của lương tâm như bằng cớ chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế .

Lương tâm có tính phổ quát cho mọi người, mọi dân tộc. Ai cũng có quan niệm lành dữ giống nhau như: không làm điều gian dối, không trộm cắp, không giết đồng loại, biết thảo kính cha mẹ v.v…

  • Luân lý Kitô Giáo:

Luân lý Kitô Giáo dựa trên những luật lệ luân lý tự nhiên và được bổ sung, thăng hoa, minh định rõ nét hơn qua giáo huấn của Chúa Giêsu. Con người không phải đơn thuần là một sinh vật có lý trí, nhưng nó còn là một tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa .

Chúa Giêsu nói : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môise hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”  (Mt 5, 17).

Luật lương tâm tự nhiên thiên về sự thưởng phạt nghiêm minh,  sự công bình khắt khe: “mắt đền mắt, răng đền răng”. Luân lý Kitô Giáo  dạy tín hữu không những thực thi công bằng mà còn có lòng khoan dung, nhẫn nhục, thứ tha, thậm chí tích cực hơn: thương yêu cả kẻ thù của mình .

Môisê, trong Cựu Ước, thừa lệnh Thiên Chúa khi cầu nguyện với Ngài trên núi, đã khắc lên bia đá 10 điều luật và truyền cho dân Chúa phải tuân giữ: ngươi phải tôn thờ Thiên Chúa, ngươi không được tà dâm, không được giết người, không trộm cắp, không làm điều gian dối v.v…

Chúa Giêsu, trong Tân Ước, dạy các môn đệ bài giảng bát phúc. Ngài truyền không phải chỉ là tuân giữ những điều cấm, mà còn là hành động mang những yếu tố tích cực hơn như:

   Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ.

   Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa  làm gia nghiệp.

   Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

   Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

   Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa  xót thương.

   Phúc thay ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy mặt Thiên Chúa.

   Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

    Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì nước trời là của họ.

   Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao  (Mt 5, 3-12).

Chúa Giêsu, là người và là Chúa, được tín hữu Kitô coi như một mẫu người hoàn thiện, một tấm gương lý tưởng để bắt chước.

Vì vậy luân lý Kitô Giáo không phải giới hạn ở đạo làm người mà thôi, mà còn nâng giá trị nhân phẩm lên tầm siêu việt: “Các con hãy trở nên thánh như Cha các con trên trời là Đấng Thánh” (Mt 5,48).

Nói tóm lại: Luân lý Kitô Giáo là luân lý của luật lương tâm  tự nhiên và được hoàn thiện thêm bởi luật yêu thương, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Ta ban cho các con một điều răn mới là các con hãy thương yêu nhau” (G 13, 33).

  1. Tu ĐỨC KiTÔ GIÁO : Con Đường Đi tÌm hạnh phÚc hay sự cứu rỗi

Đạo là đường :

Đạo là đường đi. Kitô Giáo là con đường tu đức, nhằm đạt tới đích là sự hoàn hảo của đời người.

Chúa Giêsu phán: ‘‘Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 5):

  • Là đường: nghĩa là đang lữ hành, đường để đi, đòi hỏi dấn thân và tiến bước, là hành động. Đường đi này không hề bằng phẳng, dễ dàng. Nhưng là con đường hẹp, gập ghềnh, đòi hỏi sự hy sinh, khắc kỷ “Từ bỏ mình mà vác thập giá” (Mt 16, 24).
  • Đường sự thật: Sự thật thì quang minh chính đại, là của lý lẽ và trí tuệ lành mạnh, trong sáng.
  • Đường sự sống : Đường của Chúa là đường dẫn tới sự sống, của tăng trưởng, của hoan lạc hạnh phúc, của an bình. Chúa phán: “Ta đến để các con được sống và sống phong phú dồi dào” (Ga 10, 10).
  • Nhân đức và ma quỷ :  thiện và ác
  • Nhân đức :

Là tính cách của một người luôn có thói quen làm những điều tốt đẹp, luôn giữ tư cách phẩm chất, luôn hành thiện, vị tha.

Giáo lý Công Giáo chia nhân đức ra làm hai loại :

  • Nhân đức đối thần (đối với Chúa Trời) :

Nhân đức đối thần là sự ái mộ, phụng thờ tôn kính của ta với Đấng Tạo Hóa. Trọng tâm đời sống Kitô hữu là lòng Tin, Cậy, Mến với Thiên Chúa ta tôn thờ.

  • Đức Tin:

Nhận biết Thiên Chúa là nguồn cội và cứu cánh đời ta.

Con người thì hữu hạn, Thượng Đế thì vô hạn. Với sự hữu hạn, ta không thể thấu hiểu được sự siêu việt của Thượng Đế. Vì thế Ngài đã phải tỏ lộ ra cho chúng ta biết được Ngài, qua mặc khải là Chúa Giêsu.

Không tin thì mọi nỗ lực của ta hóa ra vô ích.

Nhưng nhờ cảm thức cuộc sống, nhờ lý trí và nhờ ân sủng Chúa ban mà chúng ta có được đức tin. Đức tin cũng cần được nuôi dưỡng, lớn lên bằng hành động.

Đức tin là một hồng phúc ‘‘Phúc cho kẻ không thấy mà tin” (Ga 20, 29), lại nữa là một ân huệ. Ân huệ chỉ có được khi ta biết mở bàn tay đón nhận.

  • Đức cậy :

         Trông cậy, phó thác vào sự quan phòng của Chúa .

Một khi tin nhận Thượng Đế là Đấng quyền uy sáng tạo vạn vật, thấu hiểu mọi sự. Thượng Đế rất đỗi nhân từ, kiên nhẫn ‘‘chậm bất bình và đầy lòng xót thương” (Nm 14, 18) thì chúng ta trông cậy vào Ngài. Trông cậy là thái độ khiêm tốn, phó thác vào sự quan phòng của Thượng Đế để Ngài chăm sóc cho đời ta.

Đức trông cậy không mang tính liều lĩnh dễ dãi, buông xuôi, mù quáng trốn chạy nghịch cảnh, nhưng là thái độ khiêm tốn chấp nhận một thực tế bất toàn của mình mà vâng phục quyền năng Thượng Đế bao trùm trên đời sống của ta. Tìm thấy trong diễn biến của sự kiện xảy đến, cái thánh ý thâm sâu của Ngài mà hành xử theo đúng lời Ngài dặn dò: ‘‘Tiên vàn hãy tìm kiếm nước trời đã’’ (Mt 6, 33).

Tôi chợt nhớ đến câu truyện ‘‘Tái ông thất mã’’ :

Xưa có ông lão họ Tái, một hôm bỗng mất con ngựa quý. Mọi người đến chia buồn, nhưng ông ta lại không tỏ ra phiền muộn, ông nói: biết đâu lại là cái may cho ta. Quả thật ít lâu sau, con ngựa ấy dẫn về nhà một bầy ngựa hoang. Hàng xóm đến mừng: bỗng dưng ông được của, ông lão nhà họ Tái lại tỏ vẻ không vui và phân trần: biết đâu lại chẳng là điều rủi ro cho ta. Trong một lần thuần hóa bầy ngựa hoang, con trai của ông bi té gãy chân. Thiên hạ lại đến chia buồn. Ít lâu sau, vùng đó có chiến tranh, nhà vua bắt mọi thanh niên đều phải đăng lính đánh giặc, chẳng có ai trong bọn họ sống sót trở về. Con trai ông vì què chân nên được miễn đi lính và được ở nhà sống với gia đình.

Thế đấy, trí óc ta nhỏ hẹp, nào biết đâu là nẻo đoạn trường mà tri thiên mệnh, hay dở chẳng biết đâu mà lần.

 Như thế, có lúc tưởng chừng điều xấu, sự thất vọng, khổ đau, bất công, tai họa giáng xuống đời ta cứ như là do Thượng Đế ghét bỏ, thì hóa ra lại dịp may, là ơn ích và công phúc của ta.

Thượng Đế là Cha chúng ta :  

‘‘Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? ’’ (Mt 7, 9) .

‘‘Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? ’’ (Mt 6, 26).

Ngã lòng trông cậy, ngạo mạn, luôn cho mình là hay nhất trên tất cả, chính là sự khước từ lòng yêu thương  của Ngài với đời ta.

  • Đức mến:

Yêu mến, vâng theo lời Ngài.

Thượng Đế là cha sinh ra ta, ban cho ta cuộc sống. Dù ta nhiều khi không hài lòng cuộc sống, nhưng không có ai có trí óc sáng suốt lại  tìm cách từ bỏ nó. Dầu sao vẫn phải công nhận cuộc sống là một món quà, là một ân huệ hết sức quý giá. Ngài còn ban cho ta cả thiên nhiên tươi đẹp, cả xã hội con người để chia sẻ và yêu thương.

Chúa nhân từ đầy lòng thương yêu, lại luôn trìu mến chăm sóc ta, không có lý gì ta lại không yêu mến Ngài.

Chúa Giêsu dạy ta điều răn quan trọng nhất là thờ phượng Thiên Chúa và yêu mến Ngài ‘‘hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn’’ (Mt 21, 37).

Thiên Chúa quả là Đấng xứng đáng để được tôn thờ yêu mến trên tất cả mọi sự.

Tại sao ta lại chưa yêu mến Ngài?

Đó có thể là vì ta chưa biết rõ về Ngài đó thôi : ‘‘vô tri bất mộ’’ mà .

  • Đức độ bản thân và với xã hội :

Khuynh hướng tự nhiên của con người làtìm kiếm sự dễ dãi, buông thả, chiều theo dục vọng thấp hèn, tìm lạc thú hưởng thụ, ươn lười vị kỷ … Muốn thắng vượt bản thân, thật không phải dễ dàng, phải có một quyết tâm và ý chí sắt đá, tập luyện liên lỉ, kiềm chế tính xấu, khắc phục nhược điểm. Nhiều khi sa ngã thất bại, nhưng biết đứng dậy và lại dốc quyết xa tránh đường tội lỗi, biến đổi mình thành con người tốt.

Người đức độ thì luôn biết sống khôn ngoan, sáng suốt, can đảm  vững tâm, sống tiết độ kiềm chế, đối xử công bằng và nhẫn nhục, bác ái vị tha.

Trong các đức tính đó, thì bác ái vị tha là quan trọng hơn cả. Theo thánh Phaolô ‘‘Đức ái thì nhẫn nhục, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả”  (I Cor 13, 4-7) .

  • Ma quỷ :

Với lý trí suy xét, bạn có thể thấy được tại sao ta phải khiêm tốn thực trong lòng mình. Có ai trong các bạn được hỏi ý kiến để mình được sinh ra trên cõi đời này; bạn cũng chẳng thể nào thoát khỏi cái mà bạn không mong muốn là sự chết.

Vậy bạn có làm chủ được đời mình đâu. Tại sao bạn lại tự tôn được nhỉ?

Thế mà rõ ràng vẫn có đó bạn ạ. Chắc hẳn phải có sự can thiệp của thế lực vô hình nào đó luôn mong muốn bạn không được thông phần vào hạnh phúc đã được hứa ban cho người công chính.

Thế lực này trong thánh kinh gọi là ‘‘ma quỷ’’ .

 Ma quỷ là thế lực của bóng tối và sự ác luôn ganh tương và tìm mọi cách để ta không nhận ra sự thực, để ta xa rời Thượng Đế và để cùng chịu số phận như nó.

Trong vườn Eden, Thượng Đế đặt cây trường sinh (Stk 3, 22) và cây biết lành biết dữ để thử thách lòng trung thành của con người. Thiết nghĩ, Thượng Đế ban cho con người sự tự do là cái quý giá nhất. Tự do còn có ý nghĩa gì, nếu không có phản đề để chọn lựa.

Cái ác đối lại thiện, như một phản đề của biện chứng. Chúa Giêsu nói: ‘‘Thế gian phải có gương xấu, nhưng khốn cho kẻ làm gương xấu” (Lc 17, 1).

Có lúc nào đó trong đời, bạn cảm thấy có cái điều tốt mình muốn làm, mình lại không làm. Có cái điều xấu không nên làm thì mình lại làm  (lời thánh Phaolô). Phải chăng sự ác nó có phe đảng của nó?

Của cải chẳng hạn, nó chỉ là phương tiện, nhưng rất nhiều người trong chúng ta lại coi nó như mục đích và khư khư giữ nó với bất cứ giá nào. Có những người sắp chết, biết mình sẽ phải ra đi tay trắng, mà vẫn cố giữ nó lại không chịu buông thả. Của cải vật chất quả là ‘‘ma lực’’ khó hiểu.

  • Cầu nguyện:

        Yêu mến Thượng Đế thì luôn mong ước được kết hợp với Ngài, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, là tỏ lòng ái mộ, là tôn thờ, là cảm tạ tri ân, là tỏ tấm lòng người con thảo hiếu với cha mình.

Cầu nguyện đơn sơ và dễ dàng quá phải không bạn.

Con người lại được Chúa an bài trong một xã hội, là anh em cùng một cha chung với nhau. Bạn năng thăm viếng hầu chuyện Ngài. Nhiều lúc, bạn rủ anh em cùng đến cho đông đúc có hay hơn không. Đó là cầu nguyện chung, là cử hành các nghi thức, nhà thờ là nơi mọi người tập họp cùng nhau để tôn vinh Thượng Đế. Bạn là cá nhân có bổn phận với cha mình, thì xã hội cũng có cái bổn phận của nó với Thượng Đế. Tôn giáo mang tính xã hội đậm đà. Ơn cứu rỗi là của cá nhân và mang chiều kích xã hội không thể tách rời.

Chưa nói đến xã hội là môi trường để thực hành điều răn thứ hai quan trọng không kém: ‘‘Yêu thương anh em như chính mình’’ (Luc 10, 27).

  • Sống bác ái yêu thương:

Lại nữa: ‘‘Ai nói yêu mến Thiên Chúa mà không yêu anh em mình là kẻ nói dối’’ (1 Ga 4, 20). Thực hành Kitô Giáo chính là quan tâm chăm sóc yêu mến tha nhân.

Thật là rõ ràng phải không các bạn.

Nhưng khi đi vào thực hành lại là vấn đề: yêu mình, yêu những người thân thì quá dễ. Nhưng không phải ai ai cũng dễ thương và dễ yêu.

Người đời thường hay phân biệt giai cấp, thành phần, trên dưới, bạn và thù để ứng xử: ‘‘trọng phú khinh bần’’, ‘‘phe ta phe địch’’ v.v… Làm sao có thể yêu những người chuyên làm phiền hà ta, chuyên tìm cách hãm hại ta, mà nhiều khi lại mang đủ tính nết xấu xa. Cái này đòi buộc một nhân cách cao vời, một sự từ bỏ mình, siêu thoát, một cái dũng, cái hạnh của bậc thánh nhân.

Tu đức Kitô Giáo là cuộc hành trình tu luyện biến đổi mình thành một chúa Kitô khác, trở nên ‘‘đồng hình đồng dạng với Ngài’’ (Rm 8, 29), là đắc đạo như lời thánh Phaolô: tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi (Gl 2, 20).

Được như thế cuộc đời bạn chính là lời cầu nguyện, là bài thánh ca tuyệt vời nhất.

  • Vai trò Giáo Hội và Đức Bà Maria:
  • Giáo Hội là mẹ và là thầy :

Với sứ mạng chăm sóc dân Chúa và loan báo tin mừng, đồng hành với con người và với lịch sử luôn luôn biến đổi không ngừng, Giáo Hội có nhiệm vụ đề ra những nguyên tắc cụ thể, để hướng dẫn mọi người, trong đời sống luân lý xã hội, thực hiện đúng theo tinh thần phúc âm.

Học thuyết xã hội Công Giáo không nhằm thay thế một chính sách nào. Nhưng là những nguyên tắc, được hoàn thiện qua các thời kỳ, làm kim chỉ nam hướng dẫn tín hữu trong đời sống trần thế, thực hành các hoạt động chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa giáo dục v.v… dựa trên những giải thích luôn phù hợp với luân lý mặc khải của Chúa Kitô.

Bạn có thể tìm thấy ở đó những hướng dẫn cụ thể cho các vấn nạn còn mang tính thời sự của thế giới hôm nay như:

  • Vấn đề hôn nhân đồng tính: Quan điểm Giáo Hội là không đồng tình, vì không hợp lẽ tự nhiên theo quy luật tạo hóa.
  • Vấn đề án tử hình: Không phù hợp với sự khoan dung bác ái Kitô Giáo.
  • Vấn đề an tử: Giáo Hội cho rằng: sự can thiệp của con người vào cái chết cho bệnh nhân dù lâm vào tình trạng tuyệt vọng và với mục đích tốt mặc dầu, vẫn là hành vi tiếm quyền Tạo Hóa, vì vốn chỉ có Ngài mới có quyền tuyệt đối trên sự sống và cái chết.
  • Vấn đề phá thai: Giáo Hội chống lại việc phá thai, vì con người hoàn toàn không có quyền tước  đoạt  sự sống của thai nhi v.v …
  • Vai trò Đức Bà Maria:

Từ khi tội lỗi và sự ác xâm nhập vào thế giới, được minh họa qua câu chuyện vườn địa đàng trong sách Sáng Thế Ký, Thiên Chúa đã có ý định cứu độ nhân loại và vai trò của Đức Bà Maria đã được định hình. Thiên Chúa nói với con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người ấy sẽ đạp nát đầu mi, còn mi sẽ rình cắn gót chân người” (St 3, 15).

Đức bà Maria được chọn làm mẹ sinh ra Chúa Cứu Thế, đồng hành với Ngài khi đi giảng đạo công khai cho đến tận chân Thánh Giá khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, cũng như sống bên cạnh các tông đồ thuở giáo đoàn sơ khai mới thành lập.

Ngài có một sứ mệnh đặc biệt trong lịch sử cứu độ, là Đấng phù trợ các tín hữu trong cuộc lữ hành trần thế.

PhẦn cuỐi

Thượng đế không là cái gì khó hiểu, không là cái gì quá trừu tượng, xa vời viển vông và nhất định không phải là vị chủ tể nghiêm khắc, lạnh lùng khô khan, vô cảm. Nhưng là người cha khoan dung và hiền hậu, đầy lòng thương yêu. Ngài ở đây cụ thể với ta, nói như thánh Augustinô, trong sâu thẳm lòng ta, sâu hơn là ta với chính ta (Confessions, III, 6, 11).

Đi đạo không phải là để tìm được cái gì và để khỏi mất cái gì. Nhưng chỉ là sự thể hiện tâm tình hiếu thảo của người con đối với cha mình. Một lời cám ơn chân tình với Thượng Đế: về cuộc sống ta như là một ân huệ Ngài ban, về ơn tha thứ cứu độ và lời hứa cho ta được tham phần vào đời sống thần linh của Ngài.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc mà trở về nguồn cội của lời chúa dạy trong phúc âm, sống trưởng thành trong đức tin của mình, bỏ qua những  hình thức rườm rà, những tiểu tiết, những suy diễn cảm tính.

Chúa Giêsu nói: ‘‘Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật ’’ (Ga 4, 23-24).

Thánh Phaolô cũng nói: lúc trẻ tôi ứng xử như con trẻ, nhưng lớn lên tôi sống như kẻ trưởng thành (1 Cor 13, 11).

Thời nay, thế kỷ 21, con người đã trưởng thành nhiều, ít nhất về tri thức, về nhân bản…  Người có đạo cũng phải trưởng thành trong suy nghĩ nhận thức và cách sống.

Thánh Basiliô Cả: ‘‘Nếu xa lánh sự dữ vì sợ bị phạt, chúng ta sống như tên nô lệ. Nếu chạy theo phần thưởng, chúng ta khác nào kẻ làm thuê. Nếu chúng ta tuân phục vì chính sự thiện và vì yêu mến Đấng ban hành lề luật, chúng ta mới thực sự là con’’ (1001 danh ngôn các thánh, Y phan, nhà xuất bản Tôn Giáo-Hà Nội 2009).

Sống đạo trưởng thành là sống tình cha con với Chúa, chứ không ấu trĩ như đứa trẻ con chỉ vì sợ bị phạt hoặc để được ban thưởng.

Tôi khuyên bạn mỗi sáng mai thức dậy, nhìn thiên nhiên huy hoàng tráng lệ, ngắm những bông hoa mơn mởn, cánh bướm chập chờn. Hãy để tâm hồn lắng đọng và khiêm tốn chân thành. Bạn sẽ nghe được tiếng nói và bước chân của Ngài. Bạn sẽ chân nhận Ngài hiện hữu.

Chỉ việc tuyên tín sự hiện diện của Thượng Đế đã là điều vô cùng lớn lao hạnh phúc, thay đổi cả cuộc đời bạn . Lúc đó bạn sẽ thấy đức tin là một món quà vô giá không gì sánh và không gì có thể đánh đổi được .

Tiếng Sa Mạc

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *