6. Nhân Quả Trong Kitô Giáo

Đi ngang một người ăn mày đang khẩn khoản van xin vài đồng bạc cứu đói, tôi thấy chạnh lòng và định giúp. Anh bạn tôi, là người Phật Giáo, ngăn lại và nói rằng người ăn mày này đáng kiếp khổ nạn và đang chịu nghiệp báo về đời sống gian ác xưa đã làm. Không nên giúp vì anh ta phải chịu như vậy, cho đến khi hoàn tất đền bù nghiệp ác. Đó là luật, không có ngoại lệ. Anh không cứu được người ta đâu, kể cả Đức Phật.
Có thể anh bạn tôi không rành về giáo lý đạo Phật, chưa hiểu về giá trị của yêu thương, sám hối, giải nghiệp.
Nghĩ đến người ăn xin, tôi chợt nhớ câu nói của Chúa Giêsu: “Các ngươi sẽ không thoát được ra khỏi nơi ấy (lao ngục), cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng” (Mt 5, 26).
Kitô Giáo hiểu thế nào về nhân quả?
- Nhân quả ở khoa học và tôn giáo:
Nhân quả là định luật cơ học, vật lý, sinh tâm lý. Nó khách quan và chi phối mọi người. Mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân lý giải. Hoặc rõ ràng hoặc tiềm ẩn.
Nó có tính liên đới, đó là khoa học không ai chối cãi. Đại dịch covid 19, dù có giãn cách xã hội, thì nó vẫn từ người này lây bệnh sang người kia và lan ra toàn thế giới. Nhiều khi mình vô can mà phải chịu hậu quả do người khác bất cẩn.
Điều này rõ nét trong di truyền học. DNA của mỗi người là do cha mẹ truyền lại, dầu mình muốn hay không.
Người ta còn nói đến vô thức tập thể. Đây là vấn đề, tuy phức tạp song có thể hiểu được và thường được giải thích là do tác động của luật nhân quả.
Tục ngữ ta có câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.
Cũng vậy, Tiên tri Giêrêmia viết: “Vào những ngày ấy, người ta sẽ không còn nói: “Cha ông ăn nho xanh, con cháu bị ghê răng ”. Nhưng mỗi người sẽ chết vì tội mình. Kẻ nào ăn nho xanh, kẻ ấy sẽ bị ghê răng” (Gr 31, 29-30). Quan niệm về trách nhiệm huyết thống, tập thể, chuyển dần sang cá nhân, ai làm nấy chịu.
Các tôn giáo, đi xa hơn, áp dụng luật nhân quả vào cả lãnh vực tâm linh. Theo họ, luật nhân quả còn ứng dụng trong cả đời sống đạo đức. Lúc thể xác chết đi, phúc và nghiệp vẫn tồn tại và luôn đi theo mình để phán xét công tội, mà được thưởng hay chịu phạt theo việc đã làm ở trần thế.
Tôi nghĩ, định luật nhân quả là đã rõ ở phần cơ học vật lý, tâm sinh lý không phải bàn cãi. Siêu máy tính có thể, một ngày kia giải mã hết các nguyên nhân, điều kiện và cho ra kết quả không sai.
Về tâm linh, phức tạp hơn nhiều vì liên hệ đến tự do con người và niềm tin vào thế giới siêu hình. Nếu nhân quả không còn thì tôn giáo cũng không có ý nghĩa gì, chứ không chỉ riêng Phật Giáo.
- Nhân quả và duyên khởi trong thánh kinh:
Nhân quả là lẽ đương nhiên trong đời sống.
Thánh kinh nói nhiều về nhân quả:
- “Ai gieo giống gì thì gặt giống ấy” (Galata 6, 7),
- “Gieo ít thì gặt ít, gieo nhiều thì gặt nhiều” (2 Cor 9, 6).
- “Gieo gió gặt bão” (Hôsê 8, 7).
- “Cây tốt sinh quả tốt; cây mà sâu thì quả cũng sâu, vì xem quả thì biết cây” (Mt 12, 33).
- Tất cả việc chúng ta làm ở đời này đều phải trả lẽ nơi tòa phán xét đời sau: “Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác” (2 Cor 5, 10).
Lại nói về nhân quả và duyên khởi:
Dụ ngôn người gieo giống minh họa rõ nét nguyên nhân và duyên khởi (Lc 8, 4-15).
Nếu hạt giống bị gieo vào bụi gai hoặc vệ đường thì bị chèn ép hoặc chim trời ăn mất, hạt rơi vào sỏi đá thì không có ẩm độ. Ngược lại, hạt giống được gieo vào đất tốt, có phân có nước thì sẽ nẩy sinh gấp chục, gấp trăm. Hạt giống cần duyên là đất tốt để sinh hoa trái. Nếu không duyên hoặc duyên xấu thì không đạt kết quả.
Trong Tân Ước, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Chúa Giêsu trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9, 2- 3). Ở chỗ khác Chúa nói: “Cũng như mười tám người bị tháp Siloe đổ xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn những người khác ở Giêrusalem ư? Tôi nói cho các ông biết không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng chết hết như vậy” (Luc 13, 15).
Định luật nhân quả có giá trị phổ quát. Ta đặt ra một câu hỏi: vậy luật nhân quả có tính khách quan và tuyệt đối nơi đạo Chúa Kitô không?
- Hóa giải luật nhân quả: Tình yêu và ân sủng
Phật Giáo cho rằng: để hóa giải nghiệp xấu thì phải làm điều tốt ngược lại. Ví dụ khi ta lỡ nói xấu làm thiệt hại ai, thì ta nên nói tốt cho họ để đền bù.
Cũng vậy, Chúa Giêsu kêu gọi trước tiên là sám hối, yêu thương tha thứ, làm hòa. Sau đó là bố thí trả nghiệp, dù 1 ly nước lã cũng được Chúa ghi nhận. Ông Giakêu đã tự nguyện đền gấp 4 tài sản mà ông làm thiệt hại cho người khác và được Chúa khen “Hôm nay ơn cứu độ đến cho nhà này” (Lc 19, 9).
Luật nhân quả là quy luật khách quan của vật chất. Không ai và không gì thoát ra khỏi định luật bất biến ấy, bao lâu còn ở trong thế giới vật chất.
Tâm lý là vật chất, còn tâm linh thì thế nào? Theo Phật học thì luật nhân quả áp dụng bao trùm cả tâm linh, kiếp này sang kiếp khác.
Đối với Kitô Giáo thì con người bị chi phối bởi luật nhân quả đời này sang đời sau. Chúa phán xét theo công tội của ta.
Nhưng Ngài là Thiên Chúa sáng tạo ra cả quy luật. Ngài siêu việt, và toàn quyền định đoạt theo ý Ngài. Trong dụ ngôn người chủ vườn thuê nhân công, nhiều người phân bì mình làm nhiều giờ hơn mà vẫn được chủ vườn trả công bằng người làm ít giờ. Chủ vườn nói: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao” (Mt 20, 15). Thượng Đế hoàn toàn không bị chi phối bởi luật nhân quả vì Ngài là chủ của các quy luật.
Kitô Giáo cho rằng: tội ta phạm không phải chỉ là với mình và với người khác mà với cả chính Chúa Trời. Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, khi trở về đứa con đã thưa với cha mình “Con đã phạm đến Trời và đến cha…” (Lc 15, 18). Phạm tội là phạm đến cả Chúa Trời.
Mà Chúa Trời thì vô cùng cao cả. Không gì sánh và đền bù cho được. Vì thế mới có việc Thiên Chúa là Chúa Giêsu Ngôi Hai tự nguyện xuống trần gian cứu chuộc, nhờ máu của Ngài mà ta được ân sủng trở lại.
Nhân quả là chỉ áp dụng cho đời thường, ở con người với nhau, có đi có lại, đền bù tương xứng.
Nhưng giữa con người, vốn là tạo vật thấp hèn, và Thượng Đế cao cả thì khác. Chỉ có ân sủng và tình yêu cao vời của chính Thượng Đế mới có giá trị trao đổi.
Ta mới hiểu tại sao Chúa lại nói: “Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”, trong câu truyện người mù bẩm sinh mà ta đã trích dẫn.
KẾT LUẬN:
Phân tích trên cho chúng ta thấy, trước mặt Chúa, ta không thể tự hào khoe khoang về những công trạng do mình làm, như người biệt phái kia trong đền thờ, vênh vang khoe thành tích đã giữ lề luật Chúa, đã đóng góp vào đền thờ v.v… Con người không thể nào tự sức mà làm được gì, song cần lòng thương xót và ân sủng của Chúa. “Không có Thầy, các con chẳng làm được việc gì” (Ga 15, 5) có ý nghĩa như thế.
Đồng thời, ta cũng thấy trách nhiệm của mình, hợp tác có nhân có quả, vào ơn cứu độ mà như thánh Augustinô đã bộc bạch: “Chúa tạo dựng nên con không cần đến con, nhưng để cứu độ con thì Người cần đến sự cộng tác của con”.
Tiếng Sa Mạc