2. Thượng Đế, Ngài Là Ai? Chúa Trời Dưới Cái Nhìn Khoa Học

CHÚA TRỜI DƯỚI CÁI NHÌN KHOA HỌC

SỐNG ẢO:

Càng văn minh tiến bộ, bạn có thấy con người ngày càng xa rời hiện thực để sống ảo. Có bao giờ bạn hồi tâm, suy nghĩ để thấy mình đang lao vào đời sống ảo như một con thiêu thân không biết dừng? Bạn đang phiêu lưu trong một cuộc đời vô định và để cho ai đó, chứ không phải là bạn, quyết định thân phận mình.

Này nhé, thị trường chứng khoán có phải là dùng tiền thật, mồ hôi công sức của mình để mua cái ảo, để mua những con số của sổ sách?

Con người sống bằng tiềm năng. Cái tiềm năng vô hình mới là cái có giá trị thực.

Các tỉ phú đô la sống thực là mấy: nhà cửa, phương tiện xe cộ, lương thực có đáng là bao. Tiền rừng bạc bể của họ để đâu cho hết? Thì ở nhà băng, ở cổ phiếu… Cũng chỉ là những con số.

Xưa kia người ta cất giấu vàng bạc kim loại quý, coi như của nả để dành. Sau này, nhà nước phát hành tiền giấy, gói đồ cũng không xong. Niềm tin đối với định chế nhà nước cũng chính là cái ảo. Nhà nước quyết định giá trị thay cho bạn, muốn ra sao thì ra. Ngày nay, người ta mua bán giao dịch bằng ví điện tử, ghi nhận bằng những con số ảo trong bộ nhớ máy tính.

Ta thử phân tích thêm một chút lĩnh vực kỹ thuật số.

 Phim ảnh, truyền hình, internet, điện thoại thông minh… đưa ta vào thế giới ảo. Cái ảo chiếm hầu hết thời gian thực, biến nó thành cái rất thực khi nào không hay.

Một máy phát, hàng triệu máy nhận ngay lập tức, cùng một nội dung, đã được ai đó lập trình. Các trò chơi games, với những câu chuyện bịa đặt kinh thiên động địa, bay bổng khắp thiên hà, đến nơi nào mà trí óc có thể tưởng tượng, y như thật. Mãi rồi hư thực lẫn lộn : có có, không không. Nhân sinh như mộng ảo, đời người như chiêm bao.

Có người còn cho rằng: cuộc sống này không thực, chẳng qua chỉ là trò chơi của những người siêu đẳng nào đó ngoài hành tinh lập trình nên. Hay nói ấn tượng hơn như Nietzsche: chỉ là những con khỉ hay bắt chước, mà Thượng Đế dựng nên để tiêu khiển mua vui cho đời sống quá dài của mình. (“Zarathustra đã nói như thế”, Nietzsche).

Vậy đâu là mộng, đâu là thực? Liệu đời người chỉ là giấc chiêm bao? Giữa hữu thể và hư vô, ta đang ở đâu? Cuối cùng, ai trong chúng ta cũng thành triết gia như ông Descartes, tự hỏi và nhủ lòng: “cogito ergo sum”( ta đang suy nghĩ là ta đang có đây).

Có điều chắc chắn, mộng hay ảo đều phải bắt rễ ở hiện thực. Thượng Đế là một hiện thực vĩnh hằng. Ý tưởng về Thượng Đế hay Chúa Trời là mấu chốt của thực tại, của nhân sinh.     

  1. Ý NIỆM THƯỢNG ĐẾ THỜI SƠ KHAI

Vào buổi bình minh của nhân loại, con người sống bằng săn bắn, hái lượm; cư ngụ trong hốc đá, hang động. Trí óc non kém, văn hóa sơ khai, man ri mọi rợ so với những tiêu chuẩn hiện đại.

Tư duy thì cụ thể. Ngôn ngữ trừu tượng rất ít ỏi. Chưa có chữ viết. Bản năng hầu như chi phối mọi sinh hoạt hằng ngày.

Để có nền móng vững chắc cho một xã hội đặc trưng riêng của con người, thì thiên nhiên đã hình thành cho nó những yếu tố căn bản không thể thiếu:

  1. Một cơ thể phù hợp :

Đứng thẳng, duỗi đầu gối, chân dài hơn giúp giải phóng đôi tay.Bộ não phát triển đủ để trao đổi thông tin, ký ức lưu trữ cao, từ đó có khả năng suy tưởng và dự báo, tính toán và sáng tạo.  

  • Trí tuệ và ngôn ngữ :

 Nhờ khả năng tiếp nhận, trao đổi và lưu trữ thông tin dồi dào qua ngôn ngữ, nhờ khả năng tư duy và sáng tạo, nhờ học hỏi kinh nghiệm của một quần thể xã hội có tổ chức, con người dần dần tích tụ kiến thức, hiểu biết và chế ngự thiên nhiên, tiến tới khai thác và làm chủ vạn vật.

  • Lương tâm :

Lương tâm là khả năng thiên nhiên phú bẩm trong tâm hồn mỗi người, để tự nhận thức điều tốt xấu mà hành xử thích đáng trong xã hội. Lương tâm mang tính phổ quát cho mọi người, mọi dân tộc. Dù ở đâu hay thuộc một dân tộc nào, mọi người cũng đều có quan niệm tốt xấu như nhau, như: không nên trộm cắp, không làm điều gian dối, không giết hại đồng loại, nên thảo hiếu cha mẹ, nên biết ơn người làm việc tốt cho mình v.v… Lương tâm là một thúc bách nội tâm giúp người làm điều hay, tránh điều có hại: khi làm sai thì bị lương tâm cắn rứt, phiền muộn; lúc làm điều lành thì thơ thới, hân hoan.

Dĩ nhiên, lương tâm có thể bị biến dạng phần nào do ảnh hưởng bởi giáo dục, văn hóa, thời đại… Nhưng nói chung, lương tâm như một hạt giống tốt gieo trong lòng mỗi cá nhân, ai cũng như ai.

Quy luật thiên nhiên: mạnh được yếu thua, bắt đầu dần được thay thế bằng ý thức công bình, chính trực, đạo đức, trách nhiệm. Chỉ có nơi xã hội con người mới có.

Lương tâm là đặc trưng của con người có lý trí hiểu biết. Ở người nguyên thủy, lương tâm mới chớm khai mở, còn đơn sơ mộc mạc và bị ảnh hưởng nhất định bởi các định chế xã hội.

  • Tôn giáo và mê tín :

Xã hội con người nguyên thủy gồm những thành phần cá nhân, tiềm tàng sự tự do và óc sáng tạo, tập hợp thành quần thể sinh động, thúc đẩy tiến hóa nhanh, làm cho thế giới sinh vật như bừng tỉnh sau giấc ngủ triền miên dài đằng đẵng. Các nhà tiến hóa cho rằng sinh vật đa bào đã xuất hiện cách đây 1 tỉ năm và con người hình thành sau này mới 200.000 năm (Homo sapiens).

Lúc này, ý thức về bản ngã và khái niệm thần linh nơi con người mới được hình thành.

Cũng như từ cái bào thai không biết gì, không nhớ gì, đứa trẻ lớn lên một hai tuổi, nay mới lờ mờ cảm nhận cuộc sống chung quanh. Suy nghĩ đầu tiên, bập bẹ qua ngôn ngữ của nó là hai tiếng ‘’papa’’ ‘’mama”, “ba, má”.

Con người nguyên thủy với trí tuệ non nớt, cũng cảm nhận được cái mà mình tùy thuộc: từ nguồn gốc đến tồn tại, ảnh hưởng trên đời sống của mình như vậy. Không phải là chính mình, không phải là thú vật cây cỏ thấp kém hơn mình, mà là những uy lực dũng mãnh đến từ các thần linh vô hình: thần núi, thần sông, thần sấm sét…

Như vậy, tôn giáo là một khía cạnh tất yếu và tự nhiên, có thể nhận thấy qua các hiện tượng:

  • Thờ vật tổ, đa thần, ma chay cúng lễ cho người chết.
  • Ma thuật.
  • Bói toán, đoán mộng, chiêm tinh.
  • Phù thủy, đồng bóng.

Người nguyên thủy tin vào đời sống bên kia thế giới, tin vào linh hồn bất tử và có ý niệm mơ hồ về một Thượng Đế là nguồn cội, có uy quyền, chi phối trực tiếp và định đoạt vận mệnh của mỗi người.

Bạn có nghĩ quá trình tiến hóa đó, hướng đi lên ngoạn mục đó, là do ngẫu nhiên, hay do một thượng trí dẫn dắt?

  1. Ý NIỆM THƯỢNG ĐẾ THỜI CỔ ĐẠI

Hầu như tất cả các tôn giáo lớn đều xuất hiện vào thời kỳ cổ đại và tồn tại đến ngày nay.

Người ta đồng thuận với nhau: thời kỳ cổ đại bắt đầu khoảng 4.000 – 5.000 năm trước công nguyên, khi có chữ viết và kết thúc vào thế kỷ 5 sau công nguyên, cùng với sự sụp đổ của đế quốc La Mã.

Vào thời kỳ này, trí thức đã phát triển và con người đã lập nên những nền văn minh xán lạn, còn lưu lại nhiều dấu tích khảo cổ và trong sử sách. Tuy vì địa lý cách trở, sự giao lưu văn hóa đã có nhưng chưa mạnh mẽ và còn phân vùng cục bộ. Ta có thể kể ra những nền văn minh như:

  • Văn minh Lưỡng Hà: Gần sông Euphrates và sông Tigris, khoảng 3.500 năm trước công nguyên. Với mẫu chữ hình nêm.
  • Văn minh Ai Cập: Gần sông Nil, khoảng 3.000 năm trước công nguyên. Với mẫu chữ tượng hình.
  • Văn minh Ấn Độ: Gần sông Ấn, khoảng 2.500 năm trước công nguyên. Với mẫu chữ Ấn.
  • Văn minh Hoàng Hà: Gần khu vực sông Hoàng Hà, khoảng 2.500 năm trước công nguyên. Với nền tảng chữ Hán.
  • Đa thần :

Người ta tính, các thần được tôn thờ ở thời cổ đại có đến hàng chục ngàn, càng lùi sâu vào lịch sử thì càng nhiều và đa dạng, nhất là thời văn minh cổ Lưỡng Hà và văn minh Ai Cập xa xưa.

Điều này dễ hiểu với chúng ta ngày nay: thiên nhiên chưa được khám phá, rất nhiều bí ẩn mà dưới con mắt người xưa là không thể giải thích. Cái gì không thể lý giải thì chỉ có nguồn gốc thần thánh mà thôi: chim thần, nỏ thần, bò thần, sóng to tàn phá không hiểu nổi từ đâu mà có, cũng là sóng thần nốt.

Dịch bệnh ốm đau, mất mùa đói kém, thiên tai đe dọa, làm cho đời sống bấp bênh. Hiểu biết nông cạn đem đến nỗi sợ hãi; sự bất lực yếu đuối khiến con người phải tìm đến chỗ dựa thần linh.

Liệu ta có sẽ biết hết mọi sự trên đời, để thoát khỏi mọi sợ hãi và thấy mình toàn năng để không phải cầu khẩn ai khác?

  • Phiếm thần :

Ta gọi phiếm thần để chỉ quan niệm cho vạn vật đều là thần thánh, đều linh thiêng hoặc phát xuất từ thần linh. Phiếm thần vốn là một hệ thống niềm tin đã tồn tại ít nhất 2.500 năm trước công nguyên.

Bà La Môn, Phật, Lão Giáo là đặc trưng cho tôn giáo phiếm thần, với diễn dịch thế giới như một hệ thống to lớn mà con người là tiểu vũ trụ.

Atharva Veda nói: “Chỉ hơi thở của Người đủ thành sinh khí cho toàn đại vũ trụ, đủ tạo nên vạn vật, sự chi phối hoàn bị đến độ đều nằm sẵn trong từng cá thể vi ti nhỏ nhặt nhất”. (thuvienhoasen.org)

Yajur Veda cũng bảo rằng: “Vạn vật phát hiện tự nơi Ngài và vũ trụ đã có sẵn trong Ngài. Cũng như cây sồi có sẵn trong hạt sồi, cũng như trái cây có sẵn trong mầm hạt cây, sẵn sàng nẩy nở và phát triển, muôn vật hữu hình đã có sẵn ở Brahman và mọi mầm mống đều phát sinh tự nơi Ngài”. (thuvienhoasen.org, Bà La Môn Giáo và triết học Phật Giáo. Như Thị).

Phật Giáo chủ trương thực tại tối hậu là Chân Như. Chân Như là một nguyên lý tối hậu, vĩnh hằng, từ đó mọi thứ hiện tượng mà chúng ta cảm nghiệm, được hình thành. Mọi thứ sinh hóa duyên khởi đều không ra khỏi Chân Như.

Thượng Đế của Lão Giáo nằm trong quan niệm “Đạo”. Lão Tử nói: “Có một cái gì đó huyền bí và nguyên vẹn tồn tại trước lúc khai thiên lập địa. Tĩnh mịch, vô hình, trọn vẹn và bất biến. Nó sống mãi ở khắp mọi nơi trong hoàn thiện và từ nó mọi vật được sinh ra. Tôi không biết tên nó là gì. Tôi gọi nó là “Đạo”. Điều đó có ý nói rằng thế giới được hình thành từ “Đạo” (Đạo Đức Kinh).

Đạo là nguồn gốc hình thành nên vạn vật, là bản thể và là đường lối mọi vật đi theo, là thực thể không có khởi đầu và kết thúc, là tổng thể những quy luật chi phối sự sinh hóa biến thiên của vạn vật, hết sức linh diệu và thuận theo tự nhiên.

“Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Có nghĩa là vạn vật đồng nhất thể, thế giới hữu hình này cũng là Đạo mà thôi. Thần cũng là người và con người cũng là thần linh.      

  • Độc thần :

Thờ kính một Thượng Đế duy nhất, sáng tạo vạn vật từ hư không và là chủ tể muôn loài. Ngài có ngôi vị, nghĩa là tách biệt bản thể với thọ sinh.

Đây, nói chung, là một tiến bộ của nhận thức. Độc thần được nhiều người coi như một vũ trụ quan đặc trưng của ba tôn giáo lớn: Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo, mà tổ phụ là Abraham, ông sống vào khoảng trên 2.000 năm trước công nguyên.

Do Thái Giáo gọi Thượng Đế là Đức Yaveh (Đn 9:14). Thiên Chúa được biết như là Đấng tối thượng, duy nhất, vô hình, là khởi nguyên của mọi sự. Ngài là cá thể, là Đấng siêu việt. Muôn vật do Ngài sáng tạo mà thành.

Vào khoảng thế kỷ 14, 15 trước công nguyên, Môise được Thượng Đế giao cho nhiệm vụ cứu dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập. Nguồn thông tin mà ta có về sứ mạng của ông là từ kinh Torah, sách cựu ước Do Thái ghi lại.

Môise gặp Thượng Đế dưới hình đám lửa trong bụi gai, ông hỏi danh tính của Ngài là gì để nói cho dân biết. Ngài trả lời cho ông: “Ta là Đấng Tự Hữu” (Xh 3,2), nghĩa là Đấng tự có. Khi đưa dân ra khỏi đất Ai Cập vào sa mạc, Ngài tỏ cho dân biết sự hiện diện của Ngài qua hình ảnh cột mây dẫn đường.

Thượng Đế thì vô hình vô tướng. Trí óc con người không thể tưởng tượng ra được.

Thượng Đế của Do Thái Giáo là Thiên Chúa của Kitô Giáo.

Chúa Giêsu cho ta biết thêm: Thượng Đế có ba ngôi vị, nhưng duy nhất là một Chúa, “Các con hãy đi rao giảng muôn dân, làm phép rửa cho họ nhândanh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28, 18).

Hồi Giáo gọi Thượng Đế của cựu ước Do Thái là Thánh Allah, là thần linh tối cao, duy nhất và tự hữu, quyền lực tuyệt đối.

Mohamet được Thượng Đế mặc khải cho. Kinh Coran có đoạn: “Chúa phán: Hãy kể lại mọi sự nhân danh Đấng Quan Phòng của con, Đấng đã tạo dựng loài người từ những tế bào mầm sống. Hãy kể lại, vì Đấng Quan Phòng của con là Đấng trọn tốt trọn lành, là Đấng đã dạy loài người biết sử dụng ngòi bút và đã dạy loài người biết được những gì nó không biết” (Coran 96:1).

  1. THƯỢNG ĐẾ CỦA KHOA HỌC TRUNG CỔ VÀ CẬN ĐẠI

Từ thế kỷ 5 sau công nguyên, khi đế quốc La Mã sụp đổ, nhiều người cho rằng đây là thời kỳ đen tối của trí thức nhân loại.

Nhưng thực ra, ở những thế kỷ sơ kỳ trung cổ, các cuộc chiến, bạo loạn đã đem lại sự giao thoa văn hóa giữa Đông và Tây.

Đến giai đoạn giữa trung cổ, thì học thuật phương Tây bắt đầu nở rộ. Các trường đại học như Bologna (1088), Oxford (1.096), Cambridge (1.209)… các khoa học đầu ngành đã được thành lập, với sự hỗ trợ tích cực của Giáo Hội Công Giáo. Toán học có một bước tiến mới với sự ra đời của môn đại số, hệ số thập phân. Người ta chế tạo nên đồng hồ cơ học, nghiên cứu thiên văn qua kính cầu lõm v.v…

  1. Sự lên ngôi của khoa học thực nghiệm :

Cùng với sự phát triển vượt bậc của trí tuệ, của trừu tượng hóa, của óc phân tích, lý luận, dự đoán và sự giúp sức của thư viện lưu trữ và nhà in (Gutenberg 1430), tư duy khoa học thấm nhập vào mọi lãnh vực trong đời sống tinh thần. Con người không chấp nhận những gì mơ hồ, tưởng tượng võ đoán. Mọi việc đều phải được thực chứng, được hệ thống hóa, hợp lý lẽ mới đáng tin. Có gì chắc chắn hơn là toán học, khoa học phát triển đi đôi với toán học.

Kinh nghiệm không nói lên được gì nếu nó không được quan sát, đo lường, thử nghiệm đúng sai.

  1. Thiên văn học:

Nổi bật  là  thuyết  nhật  tâm do Nikolay  Kopernik  (1473-1543),  một

giáo sĩ người Ba Lan, chủ trương: mặt trời là trung tâm thái dương hệ chứ  không phải là trái đất như xưa nay vẫn tưởng.

Gallileo Gallilei (1564-1642) đã phát triển quan điểm chấn động và gây tranh cãi này của Kopernik. Ông bị Giáo Hội lên án kịch liệt và cho là lập luận của ma quỷ, phù thủy.

  • Vật lý học thực nghiệm:

Francis Bacon (1561-1626): không có gì tồn tại, ngoài các sự vật hoạt động theo quy luật.

Thượng Đế chỉ là khái niệm siêu hình: làm sao đong đếm được.

Như vậy, đối với nhiều người, Thượng Đế chỉ là tưởng tượng mê tín của một thời ngu muội.

  • Những sai lầm đáng tiếc của Giáo Hội :

Song hành với nhà cầm quyền thế tục, Giáo Hội Công Giáo La Mã, trong thời gian dài, cùng với vua chúa và giới quý tộc nắm trọn quyền bính, thế lực trong tay: chinh phục các bộ tộc, thống trị cả nền văn hóa xã hội Âu Châu trung cổ. Sự tha hóa của Giáo Hội đã dẫn đến nhiều sai lầm: khắt khe, áp bức, cố chấp, tàn nhẫn.

Các giáo sĩ được đào tạo bài bản, không để trở thành thông tuệ, mà là cố chấp bằng mọi lý lẽ bảo vệ truyền thống, giải thích thánh kinh một cách ấu trĩ; tự cho mình nắm mọi chân lý. Ai không nghĩ theo đúng đường lối giống mình là ma quỷ, là dị giáo, lầm lạc, thậm chí còn dùng quyền lực tòa án để giết hại những người bất đồng chính kiến, biến cơ cấu Giáo Hội trở thành guồng máy cai trị áp bức, chứ không còn là phương tiện giáo hóa nhân tâm. Đây là thời kỳ suy thoái nghiêm trọng của cơ cấu Giáo Hội La Mã: chạy theo thế tục, xa rời giáo huấn phúc âm.

Giáo quyền quá chú trọng đến hình thức bên ngoài, quyền lợi danh vọng thế tục, lễ nghi quan cách, cứng nhắc, mê tín dị đoan, mà quên đi cái nội dung linh diệu bên trong. Trái ngược với giáo lý chính thống đơn sơ là những suy luận tưởng rằng cao siêu, nhưng xa rời cuộc sống, vô bổ, trói buộc.

Nói chung, hình ảnh của một Thiên Chúa tinh tuyền biến thành một ngẫu tượng thấp hèn, không hơn không kém. Tôn giáo trở thành liều thuốc ru ngủ, lú lẩn, mê hoặc, phục vụ cho giới thống trị ăn trên ngồi trước. 

  • Thượng đế của những người vô thần :

Quá ê chề với những võ đoán, mê tín, cả tin, đưa nhân loại vào trì trệ, thối nát thất bại, khổ đau, nô lệ, những người vô thần tự coi mình như những nhà giải phóng, những nhà khoa học tiến bộ. Thời kỳ này kéo dài, sang cả thế kỷ 18 ở châu Âu, gọi là thời đại khai sáng hoặc ánh sáng mà đỉnh điểm là cuộc cách mạng Pháp 1789.

Khoa học không ngừng phát triển về mọi mặt, nổi bật là các trào lưu vô thần thế kỷ 19:

  1. Duy vật biện chứng:

Karl Marx (1818-1883), Friederich Engels (1820-1895) chủ trương vũ trụ là một thể thống nhất của vật chất, tồn tại khách quan. Không gian và thời gian, vận động là những hình thức tồn tại, thuộc tính cố hữu của vật chất. Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, không sinh ra và không mất đi. Vật chất biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau. Ý thức cũng chỉ là một hình thái của vật chất.

  • Thuyết tiến hóa:

Charles Darwin (1809-1882): Mọi loài sinh ra tự nhiên, không do một Chúa trời nào cả. Từ vô cơ, sinh vật đơn bào, rồi từ sinh vật cấp thấp, mà tiến hóa đến sinh vật cấp cao có trí tuệ như con người, nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên, cạnh tranh sinh tồn, thích nghi. Loài người do khỉ vượn tiến hóa mà thành. (“Nguồn gốc các loài”, 1859).

  • Các nhà khoa học tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế :

Bên cạnh những nhà khoa học không có niềm tin vào thế giới siêu hình, với trào lưu tục hóa rộng rãi của xã hội: coi tôn giáo là mê tín, hủ hóa, nô dịch, kềm tỏa tự do mà con người văn minh cần tự giải phóng. Có nhiều nhà bác học lại khiêm tốn, thấy tri thức con người không là gì trước sự huyền bí vô cùng bao la của thiên nhiên và sự cao cả của Thượng Đế.

Họ tiêu biểu là:

  1. Johannes Kepler (1571-1630):

Giáo sư chủng viện Graz sống cùng thời với Gallileo. Kepler là nhà toán học và thiên văn người Đức, là một trong những đại diện của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 18. Ông tìm ra các định luật về chuyển động thiên thể gọi là đinh luật Kepler. Phát minh ra một mẫu kính viễn vọng phản xạ (kính viễn vọng Kepler).

Ông tin rằng: Chúa đã sáng tạo thế giới theo một kế hoạch có thể dùng lý trí mà biết. Nhờ các định luật của Kepler về sự chuyển động các hành tinh mà Newton lập nên lý thuyết vạn vật hấp dẫn.

  • Isaac Newton (1642-1726):

Nhà toán học, vật lý, thiên văn người Anh. Đề ra định luật vạn vật hấp dẫn và ba định luật về chuyển động, được coi là nền tảng của cơ học cổ điển. Newton được nhiều người xem là một trong những nhà khoa học vĩ đại, có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử, với vai trò là nhân vật chính trong cuộc cách mạng khoa học.

Ngoài việc cống hiến cho những nghiên cứu khoa học, ông dành phần lớn thời gian để tìm hiểu thánh kinh. Newton tin tưởng một Chúa Trời duy nhất, siêu việt, dựng nên vũ trụ này, Đấng mà ta không thể phủ nhận khi nhìn ngắm các công trình kỳ diệu của Ngài. Ông nói: “Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính của tôi”.

  • Louis Pasteur (1822-1895):

Người Pháp, ông được coi là cha đẻ của ngành sinh vật học, với những phát hiện về các nguyên tắc tiêm phòng, lên men vi sinh… Pasteur chứng minh thuyết tự sinh vốn được các nhà khoa học trước đó chủ trương là không đúng. Pasteur cũng được tôn là cha đẻ của nền y học hiện đại, một thiên tài, phát minh thuốc chủng ngừa bệnh dại, bệnh than, phương pháp tiệt trùng… Ông cũng là nhà khoa học luôn đặt niềm tin vào Thượng Đế: “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế”.

Ngoài những nhà khoa học tiêu biểu kể trên, ta không thể không kể đến các nhà bác học lỗi lạc khác cùng thời như:

  • Faraday (1791-1867), nhà hóa học và vật lý học: đóng góp cho lĩnh vực điện từ và điện hóa học.
  • Dalton (1766-1844), nhà hóa học: nổi tiếng về lý thuyết nguyên tử.
  • Maxwell (1831-1879), nhà toán học và vật lý học: nghiên cứu lực tĩnh điện, từ trường đưa đến tiên đoán sự tồn tại sóng vô tuyến. Các khám phá của ông mở ra lối đi cho các lĩnh vực như thuyết tương đối hẹp và cơ học lượng tử sau này.
  • Mendel (1822-1884), cha đẻ môn di truyền học. Ông là một linh mục Công Giáo.

Và nhiều nhà khoa học khác nữa… Đối với họ tôn giáo không đối nghịch với khoa học mà trái lại, nói như Einstein “Tôi chưa hề gặp điều gì trong khoa học của tôi mà đi ngược lại với tôn giáo”.

  1. THƯỢNG ĐẾ CỦA KHOA HỌC HIỆN ĐẠI: Thế kỷ 20 – 21
  2. Những sai lầm của thuyết tiến hóa cổ điển:

Thuyết tiến hóa cổ điển mà Darwin, một trong những người khởi xướng, với cuốn sách ông xuất bản nhan đề “Nguồn gốc các loài”, như làn gió thổi vào khoa học thế kỷ 19, đang hừng hực khí thế chung đòi phế bỏ hàng loạt những quan niệm đã lỗi thời. Thuyết này, trong hơn 150 năm qua, dễ dàng được nhiều người chấp nhận vì những lập luận khá thuyết phục dựa trên những bằng chứng khảo cổ tìm được và qua quan sát thực nghiệm.

Đến nay thì thuyết này ngày càng đuối sức, vì có những bằng chứng khoa học mới đi ngược lại kết luận vội vã, vốn mang nhiều tính chất võ đoán hơn là khoa học của nó. Các điểm đang được tranh cãi chính yếu, xoay quanh các vấn đề nan giải làm sao để giải thích được các hiện tượng:

  • Theo nhiệt động lực học: khi chuyển hóa, năng lượng tiêu hao, chứ không ngược lại theo chiều hướng đi lên.
  • Thiết kế phải được hoàn chỉnh từ đầu do trí tuệ xếp đặt chứ không thể tự nhiên.
  • Sinh vật học: chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống và loài nào sinh ra loài ấy.
  • Di truyền học: nếu bị đột biến thì chỉ có thể thoái hóa chứ không tiến hóa đi lên được.
  • Nhiều cổ vật hóa đá cách đây hàng trăm triệu năm, vẫn không khác gì so với cùng loài còn sống đến hôm nay.
  • Rất nhiều mẫu vật khảo cổ thu thập, được chứng minh là không đáng tin cậy, giả tạo.

Nhiều nhà khoa học tin rằng: rồi thuyết tiến hóa cổ điển sẽ bị khai tử như một học thuyết dối trá, nhảm nhí, lừa gạt lớn trong lịch sử khoa học. Darwin, cha đẻ thuyết này cũng nghi ngờ chính mình. Nhà khoa học Ernst Chain, đạt giải Nobel sinh học và y học thì nói: “Tôi thà tin vào truyện cổ tích, còn hơn tin vào những phỏng đoán vô căn cứ như vậy của thuyết tiến hóa’’.

Dựa trên học thuyết tiến hóa cổ điển của Darwin thế kỷ 19, hai nhà cổ sinh vật học nổi tiếng Lecomte du Noüy, một tín hữu Công Giáo có đức tin sâu sắc và Teilhard de Chardin, linh mục dòng Tên: chủ trương học thuyết tiến hóa mới gọi là “học thuyết viễn đích”.

  • Thuyết tiến hóa mới của Lecomte du Noüy (1883-1947) và Teilhard de Chardin (1881-1955) :

Cuộc tiến hóa đến con người có trí tuệ thì sẽ đi vào chiều sâu, chủ yếu là sự phát triển của tinh thần và ý thức. Nhân loại đang hình thành một lớp người siêu đẳng, thần nhân. Sự tiến hóa này được định hướng nhắm tới một mục tiêu rõ rệt, là tiến đến sự hoàn hảo tinh thần và trí thức nhân loại, mà đỉnh điểm là Omega. Tiến trình này Teilhard de Chardin gọi là Kitô hóa (christianisation).

Ngày nay, sự phủ sóng rộng khắp của internet, với nền trí thức toàn cầu hóa trình độ cao, đã chứng minh cho ý niệm “tuệ quyển” (noosphere) của Chardin, mà ông đã tiên đoán trước hàng nửa thế kỷ, là hoàn toàn đúng.

Thượng Đế mời gọi và hướng dẫn công cuộc tiến hóa một cách diệu kỳ. Con người sẽ dùng sự tự do, tự chủ mà Ngài ban cho, để dần dần kiềm chế bản năng thấp hèn, hướng đến đời sống cao thượng, thoát khỏi dục vọng bản thân, sống xứng với nhân phẩm cao cả.

Trong tiến trình này, cũng theo các ông: đóng góp của cá nhân và sự tự do là thiết yếu. Thượng Đế chỉ mời gọi chứ không ép buộc. Ta mới thấy sự tự do quan trọng và đáng quý thế nào. Nó có thể đóng góp vào sự thành công hay hủy hoại cả một công trình sáng tạo.

Tự do là cái quý nhất của con người và cũng là mối nguy hiểm nhất. Nó đòi buộc sự tự chủ và tự chịu tránh nhiệm cho hành vi của mình.

Khoa học tiến bộ, phát minh kỹ thuật càng tối tân, thì việc sử dụng sự tự do, càng đòi hỏi trách nhiệm cao độ. Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức không thể kiểm soát. Nó tỏ ra vô cùng nguy hiểm. Đòi hỏi một trình độ đạo đức tương xứng để duy trì thế quân bằng. Nếu không, sự tự hủy diệt là điều không thể tránh khỏi.

Người ta hỏi Einstein, thế chiến thứ ba sẽ xảy ra thế nào, khi rất nhiều nước sở hữu bom khinh khí và hạt nhân, có sức hủy diệt mọi sự sống trên địa cầu. Ông điềm nhiên trả lời: tôi không biết, nhưng điều chắc là thế chiến thứ tư, thì con người chọi nhau bằng đá. Đó nghĩa là xóa bài làm lại từ đầu. Nhiều nhà khoa học cho rằng: đã từng có những nền văn minh cổ xưa rất rực rỡ trên trái đất, không biết vì lý do gì đã bị tận diệt.

Điều này có xảy ra cho chúng ta không? Rất có thể, nếu ta loại trừ Thượng Đế ra khỏi đời sống mình.

  • Thuyết tương đối của Albert Einstein (1879-1955) – Thuyết bất định của Heisenberg (1901-1976) :
  • Einstein : 

Với phương trình nổi tiếng E=MC2 : vật chất chỉ là một dạng của năng lượng. Công thức này thay đổi cách nhìn về năng lượng, tạo ra những công nghệ hiện đại ngày nay. Năng lượng không thể tự sinh mà chỉ có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác. Ví dụ củi khô biến thành nhiệt khi đốt cháy. Với phương trình này, bom nguyên tử đã được chế tạo.

Einstein còn đề ra thuyết tương đối: coi thời gian và không gian chỉ là một dạng nhận thức, có thể hoán vị cho nhau.

  • Heisenberg :

Chủ trương nguyên lý bất định : Các hạt vi mô cơ bản vừa là hạt vừa là sóng.

Lý thuyết của Einstein và Heisenberg là những đại diện nổi bật, làm đảo lộn tất cả quan niệm của nền tri thức và khoa học cũ dựa trên toán học Euclide và vật lý cổ điển Newton, đặt nền móng và đưa thế giới vào thời đại mới của khoa học vật lý lượng tử.

Từ nay, con người bước vào một cuộc phiêu lưu mới, khám phá một vùng thiên nhiên vô cùng mới lạ, vô cùng phong phú, vô cùng vi diệu, mà các phương pháp khoa học, đều không có tác dụng nào.

  • Sự thất bại của khoa học và cuộc cách mạng kỹ thuật tin học :

Từ những câu chuyện mà ta cho là hoang đường, mê tín, huyền thoại thì nay nhiều thứ đã biến thành hiện thực. Thế giới lượng tử vén màn cho ta thấy những điều kỳ lạ, phi lý ngoài sức tưởng tượng, nay biến thành sự thật không thể chối cãi.

  1. Thiên văn học :

Với những viễn vọng kính tối tân, con người đã dõi mắt đến những thiên hà xa xăm hàng tỉ năm ánh sáng, đã phát hiện ra những hố đen (black hole), ở đó không còn không gian, thời gian. Không có thời gian và không gian, làm sao ta quan niệm được và làm sao khoa học tồn tại được.

  • Vật chất tối, năng lượng tối :

Thì ra thế giới hữu hình ta đang ở trong, chỉ chiếm một phần rất nhỏ thực tại sống. Quanh ta là vật chất tối, năng lượng tối, một thế giới khác mà ta không thể nào quan niệm được.

  • Thế giới lượng tử :

Hiện hữu rất thật, trong đó các định luật khoa học mà ta đang áp dụng hoàn toàn vô nghĩa lý. Với vật lý lượng tử: ta có thể cùng một lúc ở nhiều nơi; quá khứ hiện tại, tương lai là một mà thôi.

Các nhà khoa học đã áp dụng lý thuyết lượng tử để chế tạo ra những máy tính, có thể xử lý dữ liệu nhanh hơn hàng triệu lần so với máy tính thông thường.

KẾT LUẬN :

 – Phải chấp nhận một quyền năng siêu việt cho sự tiến hóa, nếu muốn thuyết này tồn tại.

 – Khoa học không đối kháng với đức tin, mà trái lại nhờ sự hiện hữu của Thượng Đế, tri thức khoa học mới có giá trị nội tại, mới giải thích được. Khoa học đòi buộc phải có Thượng Đế.

Nói như André-Marie Ampère : “Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh”. 

Blaise Pascal: Đứng trước sự lựa chọn hữu thần hay vô thần, thái độ khôn ngoan là chọn lựa hữu thần, vì ta sẽ không mất mát gì cả. Nhưng đức tin vào một Chúa Trời không phải là sự chọn lựa khiên cưỡng như lập luận của Pascal, mà là một lời mời gọi để ta chấp nhận với sự tự do sáng suốt của lý trí, với một lòng thành kính cảm nhận từ thực tế cuộc sống.

Tiếng Sa Mạc

Bài liên quan

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *